Chương 1: Lý luận chung về kiểu dáng công nghiệp và hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp. Chương 2: Những quy định của pháp luật Việt Nam về xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp. Chương 3: Thực trạng và giải pháp hạn chế tình trạng xâm phạm và nâng cao hiệu quả xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP VÀ HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP 1.
Khái niệm kiểu dáng công nghiệp và quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp 1. Khái niệm kiểu dáng công nghiệp và phân biệt kiểu dáng công nghiệp với một số đối tượng khác 1. Khái niệm kiểu dáng công nghiệp Một sản phẩm để dễ được người tiêu dùng chú ý đến không chỉ bởi chất lượng, tính năng của nó mà còn phụ thuộc phần lớn vào kiểu dáng bên ngoài của sản phẩm. Kiểu dáng công nghiệp là một trong các đối tượng của quyền SHCN.
Vì thế, kiểu dáng công nghiệp cũng có những đặc tính chung của tài sản trí tuệ như: tính sáng tạo, tính chất vô hình, tính dễ phổ biến, lan truyền. Tuy nhiên về nội hàm kiểu dáng công nghiệp hiện nay vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau với các tiêu chí khác nhau. Có thể dẫn ra một số ví dụ như sau: Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) định nghĩa: “Kiểu dáng công nghiệp mang tính chất trang trí hay thẩm mỹ của sản phẩm. Kiểu dáng có thể bao hàm các khía cạnh 3 chiều, ví dụ như hình dáng hoặc bề mặt của sản phẩm, hoặc các khía cạnh 2 chiều, ví dụ như mẫu hoa văn, đường nét hoặc màu sắc”[62].
Như vậy, kiểu dáng công nghiệp được xác định là biểu hiện bên ngoài của sản phẩm và biểu hiện đó có thể là trên mặt phẳng (hai chiều) hoặc ở không gian 3 chiều. Kiểu dáng công nghiệp được xác định bởi tính chất trang trí hay thẩm mỹ của nó. Đây là một định nghĩa mở, định nghĩa này cho phép hiểu về kiểu dáng công nghiệp rất rộng. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ điển Wikipedia định nghĩa về kiểu dáng công nghiệp như sau: Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp.[70] Theo định nghĩa này, từ điển Wikipedia cũng đã phân tích các yếu tố của kiểu dáng công nghiệp như sau: Thứ nhất, hình dáng bên ngoài của sản phẩm là phần sản phẩm có thể nhận biết được bằng các giác quan (chủ yếu là mắt) trước khi kiểm nghiệm sản phẩm; Thứ hai, tính mới; Thứ ba, kiểu dáng công nghiệp phải có tính khả thi trong việc làm mẫu để chế tạo hàng loạt bằng công nghiệp hoặc thủ công nghiệp.
Theo pháp luật Mỹ, kiểu dáng công nghiệp được định nghĩa: Kiểu dáng bao gồm các đặc tính trang trí được thể hiện hay áp dụng trong một sản phẩm. Vì kiểu dáng được thể hiện ở hình dáng bên ngoài nên đối tượng bảo hộ kiểu dáng có thể là hình dạng của một sản phẩm, là trang trí mặt ngoài của một sản phẩm, hay là sự kết hợp giữa hình dáng và trang trí bề ngoài. Một kiểu dáng trang trí bề ngoài không thể tách rời sản phẩm mà nó trang trí và do vậy không thể tự thân tồn tại một mình được.5] Theo đó, đặc tính trang trí của kiểu dáng công nghiệp được nhấn mạnh ngay từ đầu, định nghĩa này cũng đặt ra yêu cầu kiểu dáng công nghiệp phải luôn gắn liền với sản phẩm. Liên Minh châu Âu định nghĩa về kiểu dáng công nghiệp như sau: “Kiểu dáng là hình dạng bên ngoài của một sản phẩm hay một số bộ phận của sản phẩm.
Kiểu dáng có thể được cấu thành từ các đường nét, màu, hình, bố cục hay trang trí”[63]. Theo đó, kiểu dáng công nghiệp chỉ là biểu hiện bên ngoài của sản phẩm và liệt kê cụ thể các yếu tố hợp thành kiểu dáng công nghiệp đó là đường nét, màu sắc, hình khối, hình, bố cục hay trang trí. Qua 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com định nghĩa này, có thể hiểu gián tiếp kiểu dáng công nghiệp có thể thể hiện ở trên mặt phẳng (hai chiều) hoặc ở dạng không gian ba chiều. Pháp luật Nhật Bản định nghĩa kiểu dáng công nghiệp như sau: “Kiểu dáng là hình dáng, kiểu mẫu, hay màu sắc, hay sự kết hợp của các nhân tố đó của một sản phẩm, là cái thông qua thị giác gợi lên một cảm xúc mỹ học.
Do vậy, kiểu dáng phải có sức hấp dẫn đối với thị giác”.5] Theo định nghĩa này đã đưa ra các dạng yếu tố thể hiện cơ bản của một kiểu dáng công nghiệp, kiểu dáng công nghiệp phải gắn liền với sản phẩm, phải đáp ứng yêu cầu về tính thẩm mỹ và kiểu dáng công nghiệp phải cảm nhận được bởi thị giác. Pháp luật Việt Nam quy định về kiểu dáng công nghiệp cũng có sự khác nhau qua các thời kỳ. Khoản 3, Điều 4, Pháp lệnh về Bảo hộ quyền SHCN 1989 quy định về kiểu dáng công nghiệp “là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng đường nét, hình khối, mầu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp” [30]. Bộ luật Dân sự 1995, kiểu dáng công nghiệp tiếp tục được định nghĩa như Pháp lệnh 1989.
Tiếp đến, Khoản 13, Điều 4, Luật SHTT 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật SHTT quy định: “Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này”[41]. Kiểu dáng công nghiệp liên quan đến các loại sản phẩm từ đồ vật hàng ngày ít giá trị cho đến những sản phẩm có giá trị cao. Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm bao gồm tập hợp các đặc điểm liên quan đến khía cạnh thẩm mỹ, trang trí cho sản phẩm. Nó có thể bao gồm sự kết hợp theo không gia ba chiều như hình khối hoặc hai chiều như họa tiết, đường nét, màu sắc.
“Kiểu dáng công nghiệp được coi là giải pháp mang tính chất mỹ thuật” [37]. Đối tượng của kiểu dáng công nghiệp bao gồm những yếu tố thể hiện ở bên ngoài của sản phẩm mà có thể cảm nhận được bằng mắt thường khi quan sát sản phẩm để phân biệt được sự giống nhau và khác nhau giữa các 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sản phẩm đó. Vì kiểu dáng công nghiệp bắt buộc là hình dáng bên ngoài của sản phẩm và mang đặc tính mỹ thuật, vì vậy, hình dáng của sản phẩm không nhìn thấy được trong quá trình sử dụng sẽ không được bảo hộ. Hình dáng bên trong của sản phẩm là phần không nhìn thấy được trong quá trình sử dụng sẽ không được bảo hộ kiểu dáng công nghiệp.
Tuy định nghĩa về Kiểu dáng công nghiệp theo pháp luật mỗi nước còn một vài chỗ chưa thực sự đồng nhất, nhưng về cơ bản các định nghĩa được viện dẫn đều đã thống nhất được với nhau như thế nào là một kiểu dáng công nghiệp. Định nghĩa về kiểu dáng công nghiệp của Việt Nam là khá tương đồng với pháp luật một số nước trên thế giới. Từ các khái niệm trên, tác giả đưa ra khái niệm kiểu dáng công nghiệp như sau: kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện trên không gian hai chiều hoặc ba chiều và được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này. Trong đó dấu hiệu là hình dáng bên ngoài của sản phẩm là yếu tố giúp phân biệt kiểu dáng công nghiệp với các đối tượng SHCN khác.
Một số hình ảnh ví dụ về kiểu dáng công nghiệp [34]: Kiểu dáng công nghiệp của chiếc Kiểu dáng công nghiệp khác nhau ghế và bình đựng chất lỏng của ô tô 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đặc điểm kiểu dáng công nghiệp Ngoài các đặc điểm chung như các đối tượng SHCN khác như tính sáng tạo, là tài sản vô hình thì kiểu dáng công nghiệp còn có một số đặc điểm riêng. Đặc điểm bản chất của một kiểu dáng công nghiệp được xác định dựa vào hai yếu tố: kiểu dáng công nghiệp phải là biểu hiện bên ngoài của một sản phẩm và kiểu dáng công nghiệp phải có khả năng áp dụng vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp hoặc thủ công nghiệp. Cụ thể: - Kiểu dáng công nghiệp là một loại tài sản vô hình Kiểu dáng công nghiệp cũng như các đối tượng khác của quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản vô hình.
Kiểu dáng công nghiệp không có cấu tạo vật chất mà nó tạo ra những quyền và ưu thế đối với người sở hữu và thường sinh ra thu nhập cho người sở hữu chúng. Kiểu dáng công nghiệp là một tài sản trí tuệ, do đó nó không bị tiêu hao trong quá trình sử dụng. Là sản phẩm của sáng tạo trí tuệ, nên kiểu dáng công nghiệp phải được vật chất hóa và được thể hiện trên các vật mang tin cụ thể. Tài sản trí tuệ vô hình phải được phản ánh, thể hiện thông qua những vật thể hữu hình.
- Kiểu dáng công nghiệp phải có tính sáng tạo Kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính sáng tạo nếu không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực tương ứng. Kiểu dáng công nghiệp phải là kết quả của sự sáng tạo, không phải là sự sao chép, bắt chước các kiểu dáng đã có. Những kiểu dáng chỉ là sự kết hợp đơn thuần của các đặc điểm tạo dáng đã biết, chỉ sắp đặt lại, thay đổi vị trí… không được coi là có tính sáng tạo. Những kiểu dáng mô phỏng hay sao chép toàn bộ hoặc một phần các đối tượng sẵn có trong tự nhiên như con vật, cây cối…; các hình học đơn giản như hình vuông, hình tròn, tam giác…; 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoặc hình dáng các sản phẩm, công trình đã nổi tiếng hoặc được biết đến rộng rãi ở Việt Nam và thế giới, không có sự cách điệu đủ mức cũng không được coi là có tính sáng tạo.
- Kiểu dáng công nghiệp là biểu hiện bên ngoài của một sản phẩm Kiểu dáng công nghiệp phải là biểu hiện bên ngoài của sản phẩm bao gồm đặc điểm liên quan đến khía cạnh thẩm mỹ, trang trí cho sản phẩm.