Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề xâm hại trẻ em trên truyền hình. Chương 2: Thực trạng về vấn đề xâm hại trẻ em trên truyền hình Việt Nam Chương 3: Những kiến nghị, khuyến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng chương trình về vấn đề xâm hại trẻ em hiện nay. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ XÂM HẠI TRẺ EM TRÊN TRUYỀN HÌNH 1. Vấn đề xâm hại trẻ em trong xã hội hiện đại 1.
Một số khái niệm cơ bản về vấn đề xâm hại trẻ em trên truyền hình Với mục đích tạo cơ sở vững chắc cho việc nhận diện vấn đề nghiên cứu, luận văn trình bày, tổng hợp một số khái niệm có liên quan đến đề tài. Cụ thể là các khái niệm dưới đây: - Vấn đề Thuật ngữ “Vấn đề” được tác giả Phạm Xuân Thành định nghĩa trong Đại từ điển Tiếng Việt năm 1999 là: “Điều cần phải được nghiên cứu, giải quyết” [36, tr. - Trẻ em Tại Việt Nam, quy định pháp lý về trẻ em xuất hiện ở nhiều Bộ luật như: Luật hình sự (2015), Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em (2004). và một số quy định bổ sung khác.
Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, tác giả dẫn chứng khái niệm liên quan đến trẻ em ở Luật Trẻ em (2016). Cụ thể, tại điều 1, Luật Trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Qua quá trình nghiên cứu, tham khảo các tài liệu về trẻ em, tác giả mạo muội tổng hợp lại khái niệm về trẻ em theo quan điểm cá nhân để sử dụng trong phạm vi luận văn này. Đó là: “Trẻ em là những người từ 0 đến 16 tuổi.
Đây là độ tuổi chưa trưởng thành về tâm sinh lý, dễ bị tổn thương. Trẻ em cần được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”. Như vậy, nếu căn cứ vào độ tuổi thì trong quá trình khảo sát, phân tích luận văn, tác giả sẽ sử dụng một số từ ngữ đồng nghĩa với từ “trẻ em” như: Trẻ sơ sinh, con mới đẻ, em bé, bé trai, bé gái, nam sinh, nữ sinh, cháu bé,. - Xâm hại trẻ em Vấn đề xâm hại trẻ em không còn mới đối với các nước trên thế giới đặc biệt là những nước đang phát triển.
Thuật ngữ “Xâm hại trẻ em” cũng chỉ mang tính tương đối bởi cùng chỉ sự việc trẻ em bị xâm hại nhưng lại có nhiều thuật ngữ khác nhau. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tổ chức Y tế thế giới (WHO) trong Báo cáo về Bạo lực và Sức khoẻ Thế giới năm 2002 định nghĩa “Xâm hại trẻ em” là: “Tất cả các hình thức ngược đãi về tình cảm, thân thể, tình dục, sao nhãng hoặc đối xử lơ đãng, hay bóc lột vì mục đích thương mại hoặc các bóc lột khác dẫn đến nguy hại hoặc nguy cơ về sức khoẻ, sự sống còn, phát triển hoặc nhân cách của trẻ trong bối cảnh của mối quan hệ hoặc trách nhiệm, sự tin cậy hoặc quyền lực" [46, tr. Luật Trẻ em của Việt Nam năm 2016 giải thích: “Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác” [31, tr. Như vậy, tất cả các định nghĩa trên đều chỉ ra rằng “xâm hại trẻ em” là tất cả những hành vi dẫn đến nguy cơ hoặc hành vi thực sự gây hại cho trẻ em về sức khỏe, tính mạng, môi trường phát triển hoặc nhân cách của trẻ.
Những người xâm hại trẻ em có thể là người thân, người quen đủ để các em tin tưởng, tin cậy hoặc những người có quyền lực khiến trẻ em sợ hãi. Tác giả sẽ sử dụng cách hiểu này để nhận diện hành vi xâm hại trong các chương trình khảo sát và sử dụng một số thuật ngữ có cùng tính chất để sử dụng trong luận văn như: bạo hành, bạo lực, lạm dụng, ngược đãi. - Phân loại các hành vi xâm hại trẻ em Phân loại hình thức xâm hại trẻ em là thao tác liệt kê các hành vi xâm hại và xếp vào các nhóm có đặc điểm tương đồng về hành vi hoặc vị trí tổn thương của trẻ. Mục đích của phân loại hình thức xâm hại phục vụ cho quá trình khảo sát được thuận lợi và trình bày kết quả trong luận văn được gọn và rõ ràng hơn.
Thông thường, các loại hình xâm hại trẻ em thường gắn liền với hành vi xâm hại. Theo quy định của Luật Trẻ em, 2016 thì các hành vi xâm hại gồm: “. bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác” [31, tr. Cách chia này rất cụ thể, chi tiết và rõ ràng theo từng hành vi tuy nhiên, nếu sử dụng tất cả các hành vi này vào luận văn thì rườm rà.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cũng biểu đạt tổn thương của trẻ em qua các hành vi xâm hại, WHO phân loại xâm hại trẻ em thành 4 loại: Xâm hại thể chất, xâm hại tinh thần, xâm hại tình dục và bỏ bê xao nhãng. Tác giả nhận thấy cách phân chia này hợp lý bởi vì cách phân loại này đảm bảo tính khoa học, bao quát hành vi xâm hại và thuận lợi trong quá trình khảo sát, trình bày luận văn. Vì vậy, tác giả lựa chọn cách phân chia xâm hại trẻ em theo 4 loại hình xâm hại ở luận văn này. Xét về hành vi, vấn đề xâm hại trẻ em ở luận văn này chia thành 4 loại hình xâm hại: Xâm hại thể chất, xâm hại tinh thần, xâm hại tình dục và bỏ bê, xao nhãng.Cách chia này chỉ mang tính chất tương đối vì một trẻ em có thể chịu đa xâm hại song luận văn vẫn cần thiết phải chia để thuận lợi cho việc so sánh.
Trẻ em bị đa xâm hại sẽ được tính theo loại hình xâm hại để lại tổn thương nặng nề nhất. Xâm hại thể chất (Physical abuse): được định nghĩa là những hành vi có khả năng gây thương tổn hoặc thực sự gây tổn thương thể chất cho trẻ em. Điều này bao gồm: đánh, đập, đá, lắc, cắn, bóp cổ, bỏng, đốt, ngộ độc và nghẹt thở… Xâm hại tinh thần (emotional abuse) là người chăm sóc không cung cấp cho trẻ môi trường sống lành mạnh, phù hợp. Xâm hại tinh thần còn bao gồm các hành vi gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tình cảm và sự phát triển của một đứa trẻ như: hạn chế di chuyển, xúc phạm danh dự, nhạo báng, hăm dọa, phân biệt đối xử , từ chối yêu thương và các hình thức ngược đãi phi thể chất khác.
Xâm hại tình dục (Sexual abuse) là sự tham gia của một đứa trẻ vào hoạt động tình dục mà đứa trẻ đó không có ý thức đầy đủ, không có khả năng đưa ra sự chấp thuận tham gia, hoặc hoạt động tình dục mà đứa trẻ đó chưa đủ phát triển cả về mặt tâm sinh lý để tham gia và không thể chấp thuận tham gia, hoặc hoạt động tình dục trái với các quy định của pháp luật hoặc các thuần phong mĩ tục của xã hội. Khái niệm “Xao nhãng, bỏ bê” (Neglect) đề cập đến sự thiếu hụt trong việc đáp ứng nhu cầu cơ bản của trẻ. Nó diễn ra ở một hoặc nhiều lĩnh vực sau: Giám sát, vật lý, y tế, phát triển cảm xúc, giáo dục, từ bỏ [46, tr. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bốn loại hình xâm hại trên đều xảy ra ở Việt Nam và tác giả sử dụng cách phân loại này vào chương 2, phân tích thực trạng các loại hình xâm hại trẻ em trên truyền hình Việt Nam.
Tác giả đã trình bày một số khái niệm liên quan đến vấn đề xâm hại trẻ em: Trẻ em, xâm hại trẻ em, loại hình xâm hại trẻ em. Từ các khái niệm trên, tác giả nhận diện về vấn đề xâm hại trẻ em là : Tất cả những hành vi có nguy cơ gây tổn thương và hành vi gây tổn thương thực sự cho người dưới 16 tuổi ở cả 4 loại hình: Xâm hại thể chất, xâm hại tinh thần, xâm hại tình dục và bỏ bê, xao nhãng được gọi là xâm hại trẻ em trong phạm vi luận văn này. Mức độ tổn thương và quy định về hành vi gây tổn thương được xét theo Luật Trẻ em của Việt Nam (2016) hoặc luật của quốc gia mà Việt Nam khai thác thông tin sự việc về xâm hại trẻ em ở quốc gia đó. - Truyền hình Mở đầu tác phẩm Giáo trình truyền hình, tác giả Dương Xuân Sơn cho rằng : “Truyền hình là một loại truyền thông đại chúng, chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc một cảnh đi xa bằng sóng vô tuyến điện” [34, tr.
9] - Chƣơng trình truyền hình Tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn “Giáo trình Truyền thông đại chúng” khẳng định: “Thuật ngữ chương trình truyền hình thường được sử dụng trong hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất, người ta dùng chương trình truyền hình để chỉ toàn bộ nội dung thông tin phát đi trong ngày, trong tuần hay trong tháng của mỗi kênh truyền hình hay của cả đài truyền hình. Trường hợp thứ hai, chương trình truyền hình dùng để chỉ một hay nhiều tác phẩm hoàn chỉnh hoặc kết hợp với một số thông tin tài liệu khác được tổ chức theo một chủ đề cụ thể với hình thức tương đối nhất quán, thời lượng ổn định và được phát đi theo định kỳ [35, tr. Tại luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữ “Chương trình truyền hình” với cả 2 hàm nghĩa.
Thứ nhất, chương trình truyền hình dùng để chỉ toàn bộ nội dung phát sóng đó là: Chương trình bản tin Chuyển động 24h, chương trình bản tin Chào buổi tối và chương trình chuyên đề Truyền hình Vì trẻ em. Thứ hai, chương trình truyền hình được hiểu như một tác phẩm báo chí truyền hình hoàn chỉnh, riêng biệt. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tác phẩm báo chí truyền hình Điều 3, Luật báo chí 2016 quy định: “Tác phẩm báo chí là đơn vị cấu thành nhỏ nhất của sản phẩm báo chí, có nội dung độc lập và cấu tạo hoàn chỉnh, gồm tin, bài được thể hiện bằng chữ viết, âm thanh hoặc hình ảnh. Căn cứ từ khái niệm trên, tác giả nhận định tác phẩm truyền hình là đơn vị nhỏ nhất cấu thành tổng thể nội dung thông tin trong một chương trình truyền hình .Tác phẩm truyền hình có nội dung độc lập và cấu tạo hoàn chỉnh, được thể hiện bằng âm thanh và hình ảnh.