phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm hai chương: Chƣơng 1: Xác định mức trách nhiệm trong việc liên đới bồi thường thiệt hại do hành vi nhiều người cùng gây ra Chƣơng 2: Xác định mức trách nhiệm trong việc liên đới bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra 9 CHƢƠNG 1 XÁC ĐỊNH MỨC TRÁCH NHIỆM TRONG VIỆC LIÊN ĐỚI BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI NHIỀU NGƢỜI CÙNG GÂY RA BLDS 2015 quy định về trách nhiệm LĐBTTH do nhiều người cùng gây ra tại Điều 587 (trước đây được quy định Điều 620 BLDS 1995, Điều 616 BLDS 2005). Theo đó, căn cứ xác định MTN trong việc LĐBTTH do hành vi nhiều người cùng gây ra được xác định đựa vào “MĐL”. Cụ thể: Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với MĐL của mỗi người, nếu không xác định được MĐL thì họ phải BTTH theo phần bằng nhau. Xác định lỗi và MĐL là vấn đề pháp lý rất phức tạp trong cả lý luận và thực tiễn.
Trên thực tế, việc xác định lỗi và MĐL rất khó khăn, có trường hợp không thể xác định được. Mặc dù, BLDS 2015 đã có quy định cụ thể về việc MTN trong việc LĐBTTH do hành vi nhiều người cùng gây ra. Tuy nhiên, chính sự khó khăn trong việc xác định MĐL hoặc xác định theo MĐL làm cho MTN của mỗi người không được công bằng đã dẫn đến có Tòa án đã áp dụng các căn cứ khác để xác định MTN trong việc LĐBTTH do hành vi nhiều người cùng gây ra. Trong chương này, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu những vấn đề có vướng mắc trong thực tiễn liên quan đến việc xác định MTN trong việc LĐBTTH do hành vi nhiều người cùng gây ra, bao gồm: (1) trường hợp căn cứ vào MĐL của từng người cùng gây thiệt hại để xác định MTN trong việc LĐBTTH; (2) trường hợp căn cứ vào các yếu tố khác để xác định MTN trong việc LĐBTTH.
Xác định mức trách nhiệm liên đới bồi thường dựa vào mức độ lỗi của từng người cùng gây thiệt hại 1. Khó khăn trong việc xác định mức trách nhiệm liên đới dựa theo lỗi Theo quy định tại Điều 364 BLDS 2015 thì lỗi trong TNDS bao gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý. Lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra. Lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
Mặc dù có quy định về lỗi, tuy nhiên pháp luật dân sự lại không đưa ra định nghĩa về lỗi và MĐL (thuật ngữ “MĐL” được đề cập tại Điều 363 và 587 BLDS 2015). Bên cạnh đó, từ quy định tại Điều 364 BLDS 2015 ta có thể nhận biết được 10 lỗi cố ý và lỗi vô ý; tuy nhiên, pháp luật dân sự lại không cho biết làm thế nào để xác định MĐL mặc dù MĐL được pháp luật dân sự sử dụng làm căn cứ để xác định MTN trong việc LĐBTTH do nhiều người cùng gây ra và mức BTTH trong trường hợp bên bị vi phạm có lỗi. Trong khoa học pháp lý về dân sự, lỗi được hiểu là thái độ tâm lý chủ quan của người vi phạm nghĩa vụ dân sự, phản ánh nhận thức của người đó đối với hành 1 vi và hậu quả của hành vi mà họ đã thực hiện. Theo Từ điển pháp luật Việt Nam, trong lĩnh vực dân sự:“.lỗi trong trách nhiệm dân sự được hiểu là yếu tố chủ quan nói lên thái độ tâm lý của con người đối với hành vi của mình và hậu quả của hành 2 vi ấy.” ; còn trong lĩnh vực hình sự, “Lỗi là thái độ chủ quan của chủ thể đối với 3 hành vi nguy hiểm của mình và hậu quả cho xã hội của hành vi đó gây ra.
Theo các định nghĩa này, lỗi là một trạng thái tâm lý của một người được thể hiện ra bên ngoài thông qua hành vi gây thiệt hại và hậu quả của việc gây thiệt hại. Điều đó cho thấy, lý trí và ý chí của người gây thiệt hại có mối quan hệ với hành vi gây thiệt hại và hậu quả của việc gây thiệt hại. Tuy nhiên, việc đánh giá một trạng thái hay một thái độ tâm lý của một người nào đó trên thực tế rất khó khăn, có trường hợp không thể định lượng được, bởi lẽ lý trí và ý chí là cái bên trong bộ não con người và đôi khi lý trí và ý chí của một con người nào đó không được thể hiện một cách tương xứng thông qua hành vi mà họ đã thực hiện. Hay nói cách khác, nếu thông qua hành vi của một người nào đó để xác định MĐL của họ thì trong một số trường hợp việc đánh giá có phần mang tính chất định tính.
Thông qua việc phân tích quy định về lỗi tại Điều 364 BLDS 2015 trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại ta rút ra được cách hiểu về lỗi và MĐL như sau: (i) So sánh giữa lỗi cố ý và lỗi vô ý: thì lỗi cố ý rõ ràng có MĐL cao hơn lỗi vô ý. (ii) Trong lỗi cố ý: nếu người nào đó nhận thức hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác một cách rõ hơn những người cùng gây thiệt hại mà vẫn thực hiện và mong muốn thiệt hại xảy ra nhiều hơn thì có MĐL cao hơn. Cụ thể hơn nữa, trường hợp nếu người nào đó nhận thức hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác một cách rõ hơn mà vẫn thực hiện và mong muốn thiệt hại xảy ra như nhau thì có MĐL cao hơn; hoặc, trường hợp nếu người nào đó nhận thức hành vi của mình 1 Nguyễn Văn Cừ - Trần Thị Huệ (2017), Bình luận khoa học BLDS 2015, NXB Công an nhân dân, tr. 2 Nguyễn Ngọc Điệp (2020), Từ điển Pháp luật Việt Nam, Nxb Thế giới, tr.
3 Nguyễn Ngọc Điệp (2020), tlđd (2), tr. 11 sẽ gây thiệt hại cho người khác như những người cùng gây thiệt hại mà vẫn thực hiện nhưng mong muốn thiệt hại xảy ra nhiều hơn những người cùng gây thiệt hại thì có MĐL cao hơn. (iii) Trong lỗi vô ý: nếu người nào đó không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết một cách rõ hơn người cùng gây thiệt hại hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra một cách rõ hơn người cùng gây thiệt hại hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại một cách rõ hơn người cùng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được thì sẽ có MĐL cao hơn. Từ cách hiểu về lỗi và MĐL như trên, rõ ràng ta thấy việc xác định MĐL dưới góc độ này cực kỳ khó khăn.
Và trên thực tế, việc đánh giá một người nào đó nhận thức rõ hoặc biết rõ một vấn đề gì đó đều phải thông qua những yếu tố “bên ngoài” như hành vi và hậu quả do hành vi của người đó gây ra hoặc vai trò mà họ đảm nhận hoặc trình độ mà họ đã được chứng nhận,. (ví dụ: nhân viên cứu hộ tại hồ bơi, người đã cấp chứng chỉ hành nghề bác sĩ, luật sự,. Tuy nhiên, về mặt logic một người có hành vi nguy hiểm hơn hoặc gây ra thiệt hại nhiều hơn chưa chắc đã nhận thức tính nguy hiểm của hành vi đó hoặc nhận thấy khả năng gây thiệt hại của hành vi đó rõ hơn người khác. Ví dụ: một người được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư chưa chắc đã nhận thức về luật tốt hơn một người chưa được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư và chúng ta chỉ suy đoán việc nhận thức của họ thông qua hành vi mà họ đã thực hiện hoặc vai trò mà họ đảm nhận hoặc trình độ mà họ đã được chứng nhận,.
Về vấn đề này, có nhận xét cho rằng “Mặc dù có nhiều nghiên cứu về mặt lý luận liên quan đến khái niệm lỗi và trên thực tế Tòa án đã vận dụng khái niệm này để giải quyết các vấn đề về BTTH ngoài hợp đồng nhưng trong nội hàm của lỗi dường như vẫn rất khó xác định. Trong một số trường hợp, có sự đan xen và không tách bạch rõ giữa lỗi và hành vi trái pháp luật. Cần phải hiểu rằng lỗi là yếu tố tồn tại bên trong còn hành vi là những gì thể hiện ra bên ngoài mà đôi khi 4 nằm ngoài sự kiểm soát của nhận thức, lý trí. Như vậy, việc Tòa án thường sử 5 dụng thuật ngữ “lỗi” ở vị trí của “hành vi” trái pháp luật của người gây thiệt hại sẽ dẫn đến việc xác định MTN trong việc LĐBTTH sẽ không chính xác theo lý luận về lỗi và MĐL.
4 Lê Minh Hùng (Chủ biên) (2019), Sách tình huống Pháp luật hợp đồng và BTTH ngoài hợp đồng (Bình luận bản án), Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 5 Đỗ Văn Đại (2018), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án Tập 1 (Sách chuyên khảo, xuất bản lần thứ tư), Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr133. 12 Và dường như chúng ta đang thực hiện một quy trình “vòng” để xác định MTN trong việc LĐBTTH bằng cách căn cứ vào MĐL. Bởi lẽ, chúng ta phải thông qua các yếu tố như hành vi gây thiệt hại, hậu quả của việc gây thiệt hại, vai trò của người gây thiệt hại,.
để đánh giá MĐL rồi sau đó căn cứ vào MĐL để xác định MTN trong việc LĐBTTH. Câu hỏi đặt ra là tại sao chúng ta lại không dựa vào các yếu tố như hành vi gây thiệt hại, hậu quả của việc gây thiệt hại, vai trò của người gây thiệt hại,. để trực tiếp xác định MTN trong việc LĐBTTH mà phải thông qua MĐL? Có lẽ đây là “yếu tố do lịch sử để lại”, khi mà trong suốt một thời gian dài pháp luật dân sự quy định lỗi là một trong những điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH. Khi đó, các trường hợp BTTH nói chung và LĐBTTH nói riêng đều phải có lỗi, và việc căn cứ vào MĐL của mỗi người để xác định MTN trong việc LĐBTTH khá là dễ hiểu.