Chương 1 KHÁI QUÁT DI SẢN THỪA KẾ VÀ DI SẢN THỪA KẾ THEO DI CHÚC 1. DI SẢN THỪA KẾ 1. Khái niệm di sản Xã hội loài người là một dòng chảy tiếp nối không ngừng. Trong dòng chảy đó, thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước, kế thừa những thành tựu, tinh hoa của thế hệ trước để tồn tại và phát triển.
Chỉ những cái tiếp nối kế thừa ấy, người ta thường dùng thuật ngữ "di sản". Theo Từ điển Tiếng Việt: "Di sản là tài sản của người chết để lại. Cái của thời trước để lại" [58, tr. Với ý nghĩa này di sản bao gồm các tài sản có giá trị vật chất hoặc tinh thần nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Di sản có thể do con người bằng hoạt động lao động của mình sáng tạo ra (của cải, các công trình kiến trúc, tác phẩm văn học nghệ thuật…), hoặc cũng có thể là sản phẩm tự nhiên do thiên nhiên ban tặng (cảnh quan tự nhiên, động thực vật quý hiếm….) được con người gìn giữ, truyền từ đời này sang đời khác. Di sản có thể là những sản phẩm vật chất, cũng có thể là những giá trị tinh thần (kinh nghiệm, lối sống, phong tục tập quán…) được con người đúc kết qua nhiều năm tháng, đời người. Trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, bằng các hoạt động của mình, con người đều để lại những "di sản" cho đời sau: di sản kinh tế, chính trị, văn hóa, pháp luật, khảo cổ học, nghệ thuật, thẩm mỹ, nhân chủng học…. Trong phạm vi luận văn này, chúng ta xem xét "di sản" ở ba cấp độ: di sản thế giới, di sản quốc gia và di sản cá nhân (công dân).
Di sản thế giới: Theo nghĩa chung nhất, di sản thế giới là toàn bộ những tài sản có giá trị quốc tế đặc biệt được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bao gồm: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thứ nhất: Lãnh thổ quốc tế: Đây là các bộ phận lãnh thổ được sử dụng chung cho cả cộng đồng quốc tế bao gồm: biển quốc tế (biển cả), vùng trời trên vùng đặc quyền kinh tế, vùng trời quốc tế, vùng đáy biển quốc tế, khoảng không vũ trụ (kể cả mặt trăng và các hành tinh), châu Nam Cực cùng với tài nguyên của nó. Các bộ phận lãnh thổ này hình thành và xuất hiện cùng với sự hình thành và xuất hiện của Trái đất; trải qua nhiều thế hệ được cộng đồng quốc tế công nhận là tài sản chung của nhân loại. Các vùng lãnh thổ này không thuộc chủ quyền của bất kỳ một quốc gia nào.
Tất cả các chủ thể của luật quốc tế đều có quyền bình đẳng với nhau trong việc sử dụng lãnh thổ quốc tế với mục đích hòa bình và phát triển. Điều này thể hiện ở các nguyên tắc của luật quốc tế: nguyên tắc tự do biển cả, vùng và tài nguyên của nó là di sản chung của loài người, tự do nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ. - Thứ hai: những tài sản có giá trị vật chất hoặc tinh thần thuộc quyền sở hữu của một quốc gia nhưng có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện bảo tồn, lịch sử, nghệ thuật, thẩm mỹ, dân tộc học, nhân chủng học hoặc khoa học…đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa, di sản thiên nhiên thế giới theo Công ước 1972 về việc bảo về các di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới được thông qua tại kỳ họp thứ 17 của Đại hội đồng UNESCO tại Paris ngày 16 tháng 11 năm 1972. Những tài sản này bao gồm: các di tích tự nhiên, các thắng cảnh tự nhiên, các cấu trúc địa chất học và địa lý tự nhiên và các khu vực có ranh giới đã được xác định là nơi cư trú của các giống động vật và thực vật có nguy cơ bị tiêu diệt, các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội họa; những tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội; nghệ thuật trình diễn; tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ; nghề thủ công truyền thống của các dân tộc trên thế giới… Những di sản này thuộc quyền sở hữu của quốc gia có di sản, tuy nhiên, do có ý nghĩa quan trọng toàn cầu, thể hiện những giá trị quốc tế đặc biệt nên không chỉ các quốc gia có di sản mà toàn thể cộng đồng thế giới cũng đều phải có trách nhiệm "bảo vệ, bảo tồn, tôn tạo và truyền lại cho các thế hệ tương lai di sản văn hóa và tự nhiên" (Điều 4 Công ước 1972).
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thứ ba: di sản thế giới còn bao gồm những tài sản có giá trị khác như: các loài thực vật, động vật quý, hiếm có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trường; Những tài sản là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ (tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, sáng chế, giải pháp hữu ích…) nhưng đã hết thời hạn bảo hộ theo Điều ước quốc tế hoặc pháp luật quốc gia nơi đối tượng này được bảo hộ …Những đối tượng này được coi là tài sản chung của nhân loại vì vậy mỗi cá nhân cũng như toàn thể cộng đồng thế giới đều có quyền và nghĩa vụ trong bảo tồn, giữ gìn, khai thác và sử dụng những tài sản này. Tóm lại, di sản thế giới là toàn bộ những tài sản (vật chất hoặc tinh thần) có giá trị quốc tế đặc biệt, được cộng đồng quốc tế thừa nhận, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và được bảo hộ quốc tế về mặt pháp lý. Di sản quốc gia Theo quy định tại Điều 1 của Công ước Môntêvideo năm 1933 về quyền và nghĩa vụ quốc gia, thì một thực thể được coi là quốc gia theo pháp luật quốc tế phải có bốn yếu tố cơ bản sau: Dân cư thường xuyên; Có lãnh thổ; Chính phủ; Năng lực tham gia vào các quan hệ với các thực thể, quốc gia khác. Trong phạm vi lãnh thổ của mình, toàn bộ những gì thuộc về môi trường tự nhiên của quốc gia: đất đai, rừng núi, sông hồ, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên sinh vật… đều thuộc về chủ quyền của quốc gia và được coi là tài sản quốc gia.
Bên cạnh đó, tài sản quốc gia còn bao gồm những sản phẩm vật chất và tinh thần có được qua quá trình con người lao động cải tạo tự nhiên và xã hội như: các công trình kiến trúc, tác phẩm nghệ thuật, phong tục tập quán, quan niệm đạo đức, lối sống, kinh nghiệm sản xuất, tri thức về tự nhiên, xã hội… được tích lũy qua nhiều thế hệ và được truyền từ đời này sang đời khác. Di sản là cái của thời trước để lại. Vì vậy, nói đến di sản quốc gia là nói đến sự kế thừa của quốc gia với những "cái của thời trước để lại". Những "cái của thời trước" này có thể là toàn bộ những bộ phận cấu thành lãnh thổ quốc gia và tài nguyên trong nó, là những sản phẩm vật chất hoặc tinh thần do con người làm ra nhưng cũng có thể là những khoản nợ của quốc gia, là quy chế 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành viên tại các tổ chức quốc tế, là trách nhiệm của quốc gia được quy định trong các điều ước quốc tế mà quốc gia đã ký kết hoặc tham gia.
Theo Từ điển Luật quốc tế xuất bản tại Matxcova năm 1982: "Kế thừa quốc gia là việc chuyển dịch các quyền và nghĩa vụ của một quốc gia này cho một quốc gia khác" [53, tr. Từ những phân tích trên, chúng ta có thể rút ra khái niệm: Di sản quốc gia là toàn bộ những tài sản, trách nhiệm và nghĩa vụ tài sản của một quốc gia được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác hoặc từ chế độ chính trị- xã hội này sang chế độ chính trị - xã hội khác và được đặt dưới sự bảo hộ của quốc gia về mặt pháp lý. Di sản cá nhân (công dân) Là một thực thể trong xã hội, con người muốn sống, muốn tồn tại và phát triển phải tham gia vào quá trình lao động. Qua quá trình lao động con người sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống bản thân và gia đình.
Quan trọng hơn, nhờ có lao động con người xuất hiện nhu cầu trao đổi kinh nghiệm, trao đổi tư tưởng cho nhau. Chính nhu cầu đó đòi hỏi sự xuất hiện của ngôn ngữ. Nhờ ngôn ngữ, con người có thể sáng tạo, bảo tồn và giữ gìn những sản phẩm tinh thần có giá trị như: chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; bí quyết nghề thủ công, tri thức về y dược học cổ truyền, văn hóa ẩm thực, trang phục truyền thống dân tộc, kinh nghiệm sản xuất… Khi con người chết đi, những giá trị vật chất và tinh thần đó không mất đi mà được lưu truyền lại cho đời sau. Cứ như vậy, ở mỗi thế hệ những tài sản này được gạn lọc, kế thừa và phát triển cho phù hợp với thời đại mà họ đang sống Khi còn sống, con người không chỉ tạo ra những của cải vật chất và tinh thần mà họ còn có các nghĩa vụ với các chủ thể khác.
Những nghĩa vụ này có thể phát sinh từ các giao dịch dân sự, từ hành vi gây thiệt hại hoặc từ các quan hệ pháp luật khác… mà người này chưa kịp thực hiện thì chết. Khi họ chết, cùng với tài sản và các nghĩa vụ tài sản họ để lại là tất yếu. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, theo nghĩa chung nhất, di sản cá nhân là toàn bộ tài sản và nghĩa vụ về tài sản của người chết được để lại cho những người còn sống. Khái niệm di sản thừa kế Thuật ngữ "di sản" được sử dụng phổ biến trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa nghệ thuật, khoa học… Trong lĩnh vực pháp luật, khi dùng để chỉ những "tài sản của người chết để lại.
Cái của thời trước để lại" các nhà làm luật sử dụng thuật ngữ "di sản thừa kế". Hiện nay, Bộ luật Dân sự của nước ta cũng như Bộ luật Dân sự của một số nước trên thế giới chưa đưa ra một khái niệm cụ thể về di sản thừa kế mà chỉ quy định di sản thừa kế bao gồm những tài sản nào. Về di sản thừa kế hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau: Quan điểm thứ nhất cho rằng: di sản thừa kế bao gồm tài sản và các nghĩa vụ tài sản của người chết để lại. Người thừa kế phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với nghĩa vụ này.