Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON 1. Khái niệm xác định cha, mẹ, con 1. Khái niệm cha, mẹ, con Để việc xác định cha, mẹ, con có căn cứ pháp lý thì trước hết phải xác định rõ một người thế nào được gọi là cha, là mẹ, là con của nhau. Khái niệm cha, mẹ Pháp luật Dân sự nói chung và pháp luật Hôn nhân và Gia đình nói riêng của Việt Nam không có văn bản nào quy định về khái niệm “cha” mà nó chỉ được định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt như sau: “người đàn ông có con, trong quan hệ với con” [61, tr.
Lần đầu tiên khái niệm người cha được quy định ngay trong Bộ luật Dân sự Đức được ban hành năm 2002, được sửa đổi năm 2009 định nghĩa cha là “The father of a child is the man 1. Who is married to the mother of the child at the date of the birth, 2. Who has acknowledged paternity or 3. Whose paternity has been judicially established under section 1600d or section 182(1) of the Act on the Procedure in Family Matters and in Matters of non- contentious Jurisdiction” (Section 1592) [63, tr.
Tạm dịch sang tiếng Việt như sau: “Cha của một đứa trẻ là một người: 1. Người kết hôn với mẹ của đứa trẻ vào ngày sinh, 2. Người đã công nhận quan hệ cha-con hoặc 3. Quan hệ cha-con của người mà đã được thiết lập một cách hợp pháp theo Mục 1600d hoặc Mục 182(1) của Đạo luật về thủ tục những vấn đề gia đình và vấn đề của thẩm quyền không tranh cãi” (Mục 1592).
Pháp luật Dân sự Đức dự đoán quan hệ cha-con rằng: người đàn ông có quan hệ hôn nhân với mẹ của nó tại thời điểm mà nó được sinh ra là cha của nó, thậm chí, 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nếu người mẹ của đứa trẻ có thai với một người đàn ông khác trước khi kết hôn với người đàn ông này nhưng chỉ cần tại thời điểm nó được sinh ra, ông ấy là chồng của mẹ nó. Tức là, vào ngày đứa trẻ được sinh ra, người đàn ông làm chồng của mẹ đứa trẻ chính là cha của nó. Mặt khác, pháp luật cũng không quy định về “cha đẻ”, “cha không chính thức” và “cha chính thức”. Vì theo quy định của pháp luật thì có những người cha được pháp luật công nhận là cha chính thức của một đứa trẻ nhưng không có quan hệ huyết thống với nó do người đó có quan hệ hôn nhân hợp pháp với mẹ của đứa trẻ và công nhận nó là con của họ.
Như vậy, người cha đẻ có thể là người cha chính thức hoặc không chính thức và ngược lại. Đây là một thiếu sót của pháp luật Hôn nhân và Gia đình. Vậy, theo ý kiến của chúng tôi, cha của một đứa trẻ là “người có quan hệ huyết thống với đứa trẻ đó hoặc được pháp luật công nhận”. Cũng như trường hợp trên, khái niệm mẹ chưa được hệ thống pháp luật nước ta đưa ra định nghĩa và chỉ có trong các từ điển Tiếng Việt.
Theo đó, mẹ là “người đàn bà sinh ra mình” [61, tr. Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự Đức năm 2002 cũng quy định: “The mother of a child is the woman who gave birth to it” (Section 1591) [63, tr.297], tạm dịch là: “Mẹ của một đứa trẻ là người sinh ra nó” (Mục 1591). Vậy một câu hỏi được đặt ra là: “Có phải tất cả những người đàn bà sinh ra mình đều được gọi là mẹ không?”. Có nhiều khả năng xảy ra như: Pháp luật một số nước cho phép mang thai hộ nên người mang thai và sinh ra đứa trẻ lại không phải là mẹ của đứa trẻ mà thực chất là người phụ nữ khác.
Có những trường hợp, người phụ nữ sinh ra đứa trẻ và bỏ rơi nó cho người cha của nó ngay sau khi sinh con vì nhiều lý do khác nhau. Ví dụ: chị A sau khi sinh con đã để lại con cho bố của nó là anh B. Hai người không có đăng ký kết hôn và chưa làm Giấy Khai sinh cho con. Sau đó, anh B lấy người phụ nữ khác là chị C làm vợ, đồng thời ghi tên người mẹ là chị C trong Giấy Khai sinh của con.
Tức là, dù chị A là người sinh ra đứa trẻ nhưng người mẹ được pháp luật công nhận là chị C. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trường hợp khác là sau khi sinh con ngoài ý muốn và bị người đàn ông là cha của đứa trẻ bỏ rơi, người mẹ không muốn hủy hoại tương lai của mình nên đã nhờ một trong những người thân của mình đứng ra làm cha mẹ của đứa trẻ và ghi vào Giấy Khai sinh của nó. Như vậy, trong các trường hợp trên, người đàn bà sinh ra đứa trẻ không phải là mẹ của nó về mặt pháp lý. Do đó, chúng ta có các khái niệm cần được định nghĩa gồm: mẹ, mẹ đẻ (mẹ ruột), mẹ chính thức, mẹ không chính thức.
Theo chúng tôi, mẹ đẻ là “người phụ nữ có cùng huyết thống với đứa con”, mẹ chính thức là “người phụ nữ được pháp luật công nhận trong Giấy Khai sinh của đứa con”, mẹ không chính thức là “mẹ đẻ nhưng không có tên trong Giấy Khai sinh của đứa con”. Các khái niệm trên có quan hệ mật thiết với nhau. Mẹ chính thức có thể hoặc không phải là mẹ đẻ và ngược lại. Mẹ không chính thức là mẹ đẻ.
Vậy, theo chúng tôi, mẹ là “người có quan hệ huyết thống với đứa con hoặc được pháp luật công nhận”. Khái niệm con Liên quan đến vấn đề xác định cha, mẹ, con trên phương diện pháp lý gồm bốn khái niệm về con như: con trong giá thú, con ngoài giá thú, con chung và con riêng. Điều cốt yếu của vấn đề xác định con cho cha mẹ gồm hai bước là xác định đứa trẻ đó có phải là con chung của họ không, và nó là con trong hay ngoài giá thú của họ. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 chỉ quy định con chung của vợ chồng chứ không đưa ra ba khái niệm còn lại.
Theo đó, con chung là “con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng” (Khoản 1 Điều 63 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000). Như vậy, mặc nhiên, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 khẳng định việc xác định con cho cha mẹ chính là xác định con chung của vợ chồng. Đây là một khái niệm mang tính chất bình đẳng giới vì dù con được sinh ra là trai hay gái đều có vai trò, vị trí, quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với cha mẹ của chúng trong gia đình.
“Con riêng của vợ là con mà chỉ người vợ là mẹ đẻ của cháu bé còn người chồng là bố dượng. Con riêng của chồng là con mà chỉ người chồng là cha đẻ của 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cháu bé còn người vợ là mẹ kế. Trong đó, Từ điển Tiếng Việt và lạc Việt đưa ra định nghĩa về “bố dượng” là “chồng sau của mẹ” [55] hay “bố ghẻ” là “người làm chồng của mẹ (đối với đứa con khi cha ruột đã chết hoặc ly dị)” [61, tr.55]; “mẹ kế” là “người phụ nữ trong quan hệ với con người vợ trước của chồng” [55] hoặc “mẹ ghẻ” là “người vợ kế của cha” [55],[61, tr. Khái niệm trên quá dài và rườm rà.
Thiết nghĩ, chúng ta không nên sử dụng khái niệm trên vì nó có nhắc đến bố dượng và mẹ kế, là những người không có quan hệ huyết thống với đứa trẻ nhưng không đưa ra định nghĩa về hai khái niệm trên. Do đó, theo chúng tôi, con riêng “là con đẻ của vợ hoặc chồng”, rất ngắn gọn và súc tích. Con trong giá thú là “con mà cha mẹ được pháp luật công nhận là vợ chồng vì việc kết hôn của cha mẹ được đăng ký và ghi vào sổ đăng ký kết hôn” [50, tr. Quy định trên không những dài mà còn thiếu vì có những trường hợp cha mẹ của đứa trẻ không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng đứa trẻ đó vẫn được pháp luật công nhận là con trong giá thú theo quy định của Nghị quyết 35/2000/QH10.
Do đó, theo chúng tôi, con trong giá thú là “con của cha mẹ có hôn nhân được pháp luật công nhận là hợp pháp”. Con ngoài giá thú là “con mà cha mẹ không được pháp luật công nhận là vợ chồng” [50, tr. Theo chúng tôi, khi chúng ta đã đưa ra định nghĩa về con trong giá thú thì con ngoài giá thú là “con không phải là con trong giá thú”. Định nghĩa này mang tính đơn giản và tổng quát hơn vì theo suy luận loại trừ, khi chúng ta xác định được các trường hợp mà một đứa trẻ là con trong giá thú thì những trường hợp còn lại sẽ được coi là con ngoài giá thú.
Hiện nay, các quan hệ xã hội phát triển không ngừng mà pháp luật không thể lường trước hết các trường hợp có thể xảy ra nên khi xuất hiện các quan hệ xã hội mới mà chưa có pháp luật điều chỉnh thì Quốc hội lại yêu cầu sửa đổi, bổ sung, thậm chí là làm mới lại toàn bộ. Điều đó sẽ rất tốn kém về thời gian, ngân sách Nhà nước và công sức của những nhà làm luật. Nhưng nếu theo định nghĩa trên thì chúng ta không những có thể tránh trường hợp bỏ sót về xác định cha, mẹ, con ngoài giá thú mà còn có rất nhiều lợi ích khác. Theo quy định tại khoản 5 Điều 2 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì con trong và ngoài giá thú bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ.
Đồng thời, 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bốn khái niệm trên có quan hệ mật thiết với nhau. Con chung và con riêng có thể là con trong hoặc ngoài giá thú của cha, mẹ. Con trong hoặc ngoài giá thú có thể là con chung hoặc con riêng của cha, mẹ. Ngoài ra, trong Thông tư số 81-TANDTC ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn tranh chấp về thừa kế có đưa ra thêm một khái niệm mới so với pháp luật thời kỳ đó là con đẻ “gồm có con chung và con riêng, kể cả người con được thụ thai khi người bố còn sống và sinh ra sau khi người bố chết không quá ba trăm ngày.
Con riêng gồm con trong giá thú và con ngoài giá thú (nếu có)” (Điều 1 phần III). Nhưng theo chúng tôi, khái niệm con có thể được định nghĩa như sau: “con là đứa trẻ có cùng huyết thống với cha mẹ của nó”.