Vốn ngân hàng, thanh khoản và khả năng sinh lời tại các NHTM Việt Nam

Luận văn phân tích tác động của vốn ngân hàng và sự tạo thanh khoản đến khả năng sinh lời (ROA, ROE, NIM) tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2022

136
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm vốn ngân hàng và tầm quan trọng trong hoạt động kinh doanh

Vốn ngân hàng là một trong những yếu tố cơ bản nhất đối với sự ổn định và phát triển của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Vốn không chỉ đóng vai trò là nguồn lực tài chính mà còn là bộ đệm bảo vệ cho các rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Theo các quy định quốc tế Basel III, vốn ngân hàng được chia thành nhiều tầng với yêu cầu tối thiểu khác nhau, nhằm đảm bảo khả năng thanh toán và bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Vốn chủ sở hữu cao giúp ngân hàng có thể mở rộng hoạt động cho vay, đầu tư và phát triển các dịch vụ tài chính khác. Việc duy trì vốn ngân hàng ở mức hợp lý không chỉ tạo niềm tin cho khách hàng mà còn cải thiện khả năng sinh lời và hiệu quả hoạt động kinh doanh.

1.1. Định nghĩa và cấu thành vốn ngân hàng

Vốn ngân hàng bao gồm vốn cấp 1 (vốn lõi) và vốn cấp 2 (vốn bổ sung). Vốn cấp 1 gồm vốn điều lệ, lợi nhuận giữ lại và các quỹ dự phòng chung. Vốn cấp 2 bao gồm các khoản nợ được phép và dự phòng rủi ro. Sự kết hợp hợp lý của hai loại vốn này tạo ra bộ đệm bảo vệ toàn diện cho ngân hàng thương mại.

1.2. Tác động của vốn đến hiệu quả hoạt động

Mức vốn ngân hàng phù hợp cho phép các NHTM Việt Nam mở rộng hoạt động cho vay, từ đó tăng lợi nhuận và doanh thu lãi suất. Đồng thời, vốn cao cũng giúp giảm thiểu tác động của các cú sốc tài chính và rủi ro tín dụng, hỗ trợ duy trì ổn định khả năng sinh lời trong dài hạn.

II. Thanh khoản ngân hàng và vai trò trong tạo lợi nhuận

Thanh khoản ngân hàng là khả năng của ngân hàng trong việc đáp ứng các khoản rút tiền của khách hàng một cách kịp thời mà không phải chịu chi phí cao. Sự tạo thanh khoản không chỉ đơn thuần là việc duy trì các khoản dự trữ tiền mặt mà còn liên quan đến việc quản lý các khoản cho vay và các tài sản có tính thanh khoản. Các ngân hàng thương mại Việt Nam cần cân bằng giữa việc duy trì thanh khoản đủ cao để đáp ứng nhu cầu rút tiền và tối ưu hóa lợi nhuận từ các khoản cho vay. Thanh khoản tốt giúp giảm chi phí vay ngoài, cải thiện khả năng sinh lời và tăng sự tin tưởng của các nhà đầu tư và khách hàng.

2.1. Khái niệm sự tạo thanh khoản

Sự tạo thanh khoản là quá trình ngân hàng chuyển đổi các tài sản kém thanh khoản (như các khoản cho vay dài hạn) thành các khoản phải trả ngắn hạn (như tiền gửi khách hàng). Đây là chức năng cốt lõi của ngân hàng thương mại, cho phép các khoản cho vay dài hạn được tài trợ bằng các tiền gửi ngắn hạn, tạo ra khả năng sinh lời cao.

2.2. Mối liên hệ giữa thanh khoản và lợi nhuận

Các ngân hàng có khả năng tạo thanh khoản cao có thể giữ lại lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất. Tuy nhiên, thanh khoản quá thấp sẽ làm tăng chi phí và rủi ro, giảm lợi nhuận. Do đó, NHTM Việt Nam cần quản lý thanh khoản hiệu quả để tối đa hóa khả năng sinh lời trong khi vẫn duy trì sự ổn định.

III. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời ngân hàng

Để đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam, các nhà phân tích sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau. ROA (Return on Assets) đo lường lợi nhuận trên mỗi đơn vị tài sản, phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản. ROE (Return on Equity) đánh giá lợi nhuận trên mỗi đơn vị vốn chủ sở hữu, quan trọng đối với cổ đông. NIM (Net Interest Margin) thể hiện chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, là nguồn doanh thu chính của ngân hàng. Ba chỉ tiêu này cung cấp cái nhìn toàn diện về khả năng sinh lời và hiệu quả hoạt động của các NHTM. Việc phân tích những chỉ tiêu này giúp các nhà quản lý và nhà đầu tư đánh giá chính xác tình hình kinh doanh.

3.1. Chỉ tiêu ROA và ROE

ROAROE là những chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả năng sinh lời của ngân hàng. ROA cao cho thấy ngân hàng sử dụng tài sản một cách hiệu quả, trong khi ROE cao chứng tỏ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu lớn. Các NHTM Việt Nam cần tập trung cải thiện cả hai chỉ tiêu này để thu hút nhà đầu tư và đạt tăng trưởng bền vững.

3.2. Chỉ tiêu NIM và doanh thu lãi suất

NIM (Net Interest Margin) là chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, là chỉ tiêu quan trọng nhất trong đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng. NIM cao cho thấy ngân hàng có khả năng quản lý lợi nhuận từ hoạt động cho vay hiệu quả, là cơ sở để duy trì lợi nhuận ổn định.

IV. Chiến lược nâng cao vốn thanh khoản và lợi nhuận cho ngân hàng

Để nâng cao khả năng sinh lời, các ngân hàng thương mại Việt Nam cần thực hiện một số chiến lược tổng thể. Thứ nhất, tăng vốn ngân hàng thông qua phát hành cổ phiếu mới, tăng lợi nhuận giữ lại hoặc vay nợ quốc tế. Thứ hai, tối ưu hóa thanh khoản bằng cách cân bằng giữa các tài sản và nợ, quản lý dòng tiền hiệu quả. Thứ ba, mở rộng các dịch vụ tài chính cao cấp để tăng doanh thu từ phí dịch vụ, giảm phụ thuộc vào lãi suất. Thứ tư, đầu tư vào công nghệ số để giảm chi phí hoạt động, cải thiện lợi nhuận và trải nghiệp khách hàng. Các NHTM cần áp dụng các chiến lược này một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường và quy định của cơ quan quản lý.

4.1. Chiến lược tăng vốn ngân hàng

Vốn ngân hàng cần được tăng cường thông qua các kênh đa dạng như phát hành cổ phiếu, giữ lại lợi nhuận hoặc huy động vốn ngoài. Các NHTM Việt Nam nên xây dựng kế hoạch tài chính dài hạn để duy trì vốn ở mức hợp lý, đồng thời tối ưu hóa chi phí vốn để cải thiện khả năng sinh lời.

4.2. Tối ưu hóa thanh khoản và cải thiện lợi nhuận

Các ngân hàng nên áp dụng các công cụ quản lý rủi ro thanh khoản hiện đại như mô hình dự báo dòng tiền. Đồng thời, cân bằng giữa cho vay dài hạn với lợi nhuận cao và duy trì tài sản thanh khoản. Điều này giúp NHTM Việt Nam tối đa hóa khả năng sinh lời trong khi giảm thiểu rủi ro.

21/12/2025
Tác động của vốn ngân hàng và sự tạo thanh khoản tới khả năng sinh lời tại các ngân hàng thương mại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 tác giả đã trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và cuối cùng là kết cấu. Chương kế tiếp người viết tiếp tục trình bày về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan đến chủ đề đã chọn. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Sự tạo thanh khoản của ngân hàng Tạo thanh khoản (Liquidity Creation) còn được gọi là hoạt động chuyển đổi thanh khoản (liquidity transformation) của ngân hàng.

Khi đó ngân hàng sẽ thực hiện vay vốn ngắn hạn để tài trợ cho các tài sản dài hạn (A. Như vậy, ở góc độ phía huy động vốn, người cho vay ngắn hạn sẽ linh hoạt rút tiền gửi tiết kiệm ra khỏi ngân hàng và đánh đổi hưởng mức lãi suất thấp theo quy định. Ở góc độ phía cho vay vốn, việc vay dài hạn sẽ giúp cho người đi vay không bị áp lực thanh toán gốc và lãi trong ngắn hạn. Đánh đổi lại là lãi suất vay dài hạn sẽ cao hơn các lãi suất cho vay ngắn hạn.

Bằng hoạt động này, ngân hàng có thể gia tăng lợi nhuận lớn hơn các hình thức tài trợ khác như dùng vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn (hoạt động phá hủy thanh khoản), dùng vốn dài hạn tài trợ cho tài sản dài hạn, hay dùng vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn. Ngân hàng huy động vốn ngắn hạn với lãi suất thông thường thấp hơn lãi suất huy động dài hạn, khi ngân hàng cho vay, các khoản cho vay dài hạn thường có lãi suất cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn, vì thế dùng khoản huy động ngắn hạn để cho vay các khoản dài hạn sẽ tạo ra lợi nhuận cao nhất so với các hình thức tài trợ còn lại. Tuy nhiên hoạt động tạo thanh khoản đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng, đánh đổi lại ngân hàng sẽ rơi vào trạng thái rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản. Rủi ro thanh khoản xuất phát từ việc ngân hàng không thể cân đối được các kỳ hạn vay do việc lạm dụng đi vay ngắn hạn để cho vay dài hạn.

Rủi ro tín dụng xuất phát từ việc ngân hàng tập trung nhiều hơn vào hoạt động đầu tư tài sản dài hạn mà hoạt động này thường có mức rủi ro phá sản của công cụ tài chính cao hơn so với đầu tư tài sản tài chính ngắn hạn. Để hạn chế rủi ro, một phương thức được đề xuất là bảo hiểm khoản vay. Tuy vậy, điều nguy hiểm mà hoạt động này gây ra là các nhà quản lý ngân hàng có động cơ giảm vốn sở hữu và chấp nhận tăng các rủi ro của khoản cho vay (A. Chính vì vậy các nhà làm luật theo đuổi các quy định về vốn ngân hàng (bank capital) như 7 là một trong những biện pháp tốt hơn để hạn chế rủi ro không trả được nợ của ngân hàng.

Nghiên cứu của (Holmstrom & Tirole, 1998) và (Kashyap et al., 2002) đề xuất rằng các ngân hàng cũng tạo thanh khoản ngoài bảng cân đối kế toán thông qua các cam kết cho vay và các yêu cầu tương tự đối với các quỹ tương hỗ (Liquid funds). Nói cách khác tạo thanh khoản là kết quả của sự không tương thích giữa tài sản dài hạn (kém thanh toán) và nợ ngắn hạn (có tính thanh khoản), các ngân hàng cũng có thể giảm việc tạo thanh khoản bằng cách tăng số dư tiền mặt của họ thông qua việc phát hành các khoản nợ dài hạn. Các ngân hàng cũng tạo thanh khoản khỏi bảng cân đối kế toán bằng cách cung cấp các cam kết cho vay và thư tín dụng dự phòng cho phép các công ty phát triển và sửa đổi các chiến lược đầu tư dài hạn một cách hiệu quả (Holmström & Tirole, 1998; Kashyap et al. Bằng cách tạo thanh khoản, lý thuyết cho thấy các ngân hàng cải thiện việc phân bổ vốn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Bencivenga & Smith, 1991).

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sự tạo thanh khoản và tầm quan trọng của nó. Trong nghiên cứu này, tác giả dựa trên nghiên cứu của (A. Berger & Bouwman, 2009) sử dụng định nghĩa: Tạo thanh khoản còn được gọi là hoạt động chuyển đổi thanh khoản của ngân hàng. Khi đó ngân hàng sẽ thực hiện vay vốn ngắn hạn để tài trợ cho các tài sản dài hạn.

Vốn ngân hàng Vốn ngân hàng thường được hiểu theo Basel II hoặc III trong đó vốn ngân hàng được coi là bao gồm tổng của vốn cấp 1 (Tier 1) và vốn cấp 2 (Tier 2). Vốn cấp 1, hay còn gọi vốn nòng cốt hoặc vốn cơ bản, là một loại vốn tự có của một tổ chức tín dụng. Về cơ bản, vốn cấp 1 bao gồm vốn điều lệ và các quỹ dự trữ của tổ chức đó cũng như phần lợi nhuận không chia. Vốn cấp 2 là thước đo tiềm lực tài chính của một ngân hàng liên quan đến các dạng nguồn lực tài chính có độ tin cậy ở hàng thứ hai (sau vốn cấp 1) bao gồm: dự trữ không được công bố, dự trữ tài sản đánh giá lại, dự phòng chung/dự phòng tổn thất cho vay chung, các công cụ vốn lai (nợ/vốn chủ sở hữu), nợ thứ cấp.

Căn cứ vào cấu trúc vốn cấp 1 và vốn cấp 2 mà Basel đưa ra các 8 tiêu chuẩn về an toàn vốn tối thiểu khi đưa ra tỷ lệ tối thiểu giữa vốn cấp một hoặc vốn cấp hai so với tổng tài sản được điều chỉnh rủi ro, các ngân hàng cần phải duy trì một lượng vốn đủ lớn để trang trải cho các hoạt động chịu rủi ro của mình, bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro tác nghiệp. Theo (Anbar, Alper, & journal, 2011) cho rằng hệ số VCSH trên tổng tài sản là một trong những hệ số cơ bản của sức mạnh vốn. Với một tỷ lệ cao hơn của VCSH thì sẽ cần ít hơn nguồn vốn bên ngoài giúp gia tăng KNSL của ngân hàng. Bên cạnh đó VCSH cho thấy được khả năng hấp thụ thua lỗ và giải quyết rủi ro.

Vốn ngân hàng là nguồn vốn đệm (capital buffer) được dùng để hấp thụ rủi ro (absorb risk) (A. Điều này có nghĩa là trong quá trình hoạt động, các ngân hàng thường tạo ra các tài sản rủi ro, để đảm bảo an toàn hoạt động, vốn ngân hàng sẽ bù đắp các tài sản rủi ro này một khi các tài sản rủi ro đã trở thành các khoản không thể thu hồi được. Nếu số lượng vốn ngân hàng càng cao thì mức độ hấp thụ rủi ro càng lớn và càng đảm bảo an toàn cho ngân hàng. Theo (Lee & Hsieh, 2013) cho thấy vốn ngân hàng có tác động cùng chiều đến lợi nhuận, gia tăng vốn ngân hàng sẽ là động lực cho sự phát triển và khi ngân hàng có tiềm lực tài chính vững mạnh, có thể sử dụng nguồn vốn này để đầu tư vào tài sản sinh lời hoặc gia tăng hoạt động cho vay, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.

Nghiên cứu này sẽ sử dụng định nghĩa về vốn ngân hàng ở góc độ học thuật và sử dụng cách tính toán về vốn cấp 1 trong Basel để đại diện cho vốn ngân hàng do vốn cấp 1 là vốn cốt lõi và mang tính hấp thụ rủi ro cao hơn so với vốn cấp 2. Khả năng sinh lời Theo (P. Rose, 2002) thì về bản chất ngân hàng thương mại cũng có thể coi doanh nghiệp hoạt động mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép. Tuy nhiên, KNSL được ngân hàng quân tâm hơn cả vì thu nhập sẽ giúp cho các ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần và thu hút nguồn lực đầu tư.

Rose, 2002) cũng nêu ra các tỷ lệ quan trọng nhất đo lường KNSL của ngân hàng được sử dụng rộng rãi bao gồm lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). 9 Theo (Besley & Brigham, 2008) KNSL là kết quả một số chính sách và quyết định. Tỷ số này cung cấp thông tin về cách doanh nghiệp hoạt động, kết nối ảnh hưởng của quản trị thanh khoản, quản trị tài sản và quản trị nợ trên kết quả hoạt động. Lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp, là một trong những mục tiêu quan trọng của quản trị tài chính cũng như quyết định sự thành công hay thất bại.

Lợi nhuận cao đóng vai trò quan trọng trong việc mang đến tiềm lực tài chính dồi dào trong kinh doanh của doanh nghiệp vì người cho vay, nhà đầu tư, nhà cung ứng sẽ không lưỡng lự khi quyết định đầu tư vào những doanh nghiệp này (Gitman, Juchau, & Flanagan, 2015) Theo (Liễu, 2010) phân tích KNSL là quá trình nghiên cứu để đánh giá toàn bộ quá trình và hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng nhằm làm rõ chất lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần khai thác. Từ đó đề ra các phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Lợi nhuận ngân hàng là thước đo tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định thường là trong một năm, nó phản ánh hiệu quả hoạt động của NHTM. Điều kiện quan trọng ảnh hưởng đến cạnh tranh của ngân hàng đồng thời cũng là nguồn vốn rẻ nhất của ngân hàng.

Do đó, mục tiêu cơ bản của nhà quản trị là tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên để đánh giá tốt hơn KNSL của ngân hàng thì đòi hỏi phải phân tích kết hợp với một số nhân tố khác có liên quan như KNSL trên tổng tài sản (ROA) hay KNSL trên vốn chủ sở hữu (ROE), nó thể hiện một đồng tài sản hay vốn sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Đây là các chỉ tiêu đo lường thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh tế. Tỷ suất sinh lời giúp nhà quản trị đánh giá được tình hình hoạt động và hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định như thế nào từ đó các nhà quản trị có thể xây dựng được chiến lược kinh doanh phù hợp trong tương lai.

Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) ROE thể hiện mức độ hiệu quả khi sử dụng vốn chủ sở hữu, tỷ số này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi 10 nhuận. Về mặt lý thuyết, ROE càng cao thì khả năng sử dụng vốn càng hiệu quả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ