Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ VI PHẠM HÀNH CHÍNHTRONG HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ DU LỊCH 1. Khái quát chung về hoạt động dịch vụ du lịch 1. Khái niệm về hoạt động dịch vụ du lịch 1. Dịch vụ Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển”.
Trong kinh tế học, Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ…và mang lại lợi nhuận. Philip Kotler định nghĩa dịch vụ: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất.
Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [21]. Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc độ khác nhau nhưng tựu chung thì: Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội. Du lịch Theo định nghĩa của A Dictionary of travel and tourism Terminology: “Du lịch” là một tổ hợp những hiện tượng và những quan hệ nảy sinh từ việc đi đến và ở lại nơi không cư trú, trong một chừng mực nào đó mà không có việc định cư và không liên quan đến việc kiếm tiền”.
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) thì: “Du lịch là tập hợp các mối quanhệ, các hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ sự hình thành và lưutrú của các cá thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên với mục đích hoà bình và nơi họđến không phải là nơi họ làm việc”. Theo Khoản 1, Điều 3 Luật du lịch 2017: “Du lịch” là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác [17]. Khoản 3, Điều 3 thì “Hoạt động du lịch” là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch [17]. Từ những khái niệm, có thể rút ra những luận điểm cơ bản về du lịchnhư sau: - Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên; - Chuyến du lịch ở nơi đến mang tính tạm thời, trong một thời gian ngắn; - Mục đích của chuyến du lịch là thỏa mãn nhu cầu tham quan, nghỉdưỡng hoặc kết hợp đi du lịch với giải quyết những công việc của cơ quan vànghiên cứu thị trường, nhưng không vì mục đích định cư hoặc tìm kiếm việclàm để nhận thu nhập nơi đến viếng thăm.
- Du lịch là thiết lập các quan hệ giữa khách du lịch với nhà cung ứng cácdịch vụ du lịch, chính quyền địa phương và cư dân ở địa phương. Hoạt động dịch vụ du lịch * Khái niệm Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch. “Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.” Dịch vụ du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng. Nói một cách đơn giản: Dịch vụ du lịch = Tài nguyên du lịch + Các dịch vụ và hàng hoá du lịch Hoạt động dịch vụ du lịch là những hoạt động mang tính dịch vụ và có sự khác nhau tùy vào địa điểm, khu du lịch cũng như nhu cầu của khách du lịch.
Nhờ sự kết hợp giữa tài nguyên du lịch và các dịch vụ, hàng hóa du lịch mà các tổ chức cung ứng du lịch sẽ có những hoạt động dịch vụ khác nhau như dịch vụ về lưu trú, lữ hành, ăn uống, vui chơi giải trí.Thông qua các hoạt động này mà du khách có thể trải nghiệm,tận hưởng, vui chơi và đáp ứng các nhu cầu của bản thân một cách trọn vẹn nhất trong toàn bộ quá trình du lịch. * Các hoạt động dịch vụ du lịch - Hoạt động dịch vụ lữ hành: là hoạt động dịch vụ mà trong đó các tổ chức cung ứng du lịch sẽ xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch. Các hoạt động dịch vụ này được đảm bảo trọn gói các quyền lợi cần thiết để khách hàng được hưởng trọn chuyến đi của mình như: di chuyển, lưu trú, ăn uống và đảm bảo thời gian thuận lợi cho khách hàng đăng ký các dịch vụ cho chuyến đi. 9 - Hoạt động dịch vụ lưu trú: là hoạt động dịch vụ cung cấp các cơ sở lưu trú ngắn hạn cho những người có nhu cầu (công tác, du lịch…).
Trong đó Cơ sở lưu trú du lịch là nơi cung cấp dịch vụ phục vụ nhu cầu lưu trú của khách du lịch.Các loại hình dịch vụ lưu trú: khách sạn, làng du lịch (tourist village, biệt thự du lịch (villa), căn hộ du lịch (serviced apartment), bãi cắm trại du lịch (tourist camping), nhà nghỉ du lịch (tourist guest house), homestay. - Hoạt động dịch vụ khác:bao gồm các dịch vụ như dịch vụ ăn uống, dịch vụ mua sắm, dịch vụ thể thao, dịch vụ vui chơi, giải trí, dịch vụ chăm sóc sức khỏe và dịch vụ liên quan khác phục vụ khách du lịch. Đặc điểm của hoạt động dịch vụ du lịch - Hoạt động dịch vụ du lịch mang tính thời vụ, phụ thuộc nhiều vào các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, điều kiện di sản lịch sử văn hóa, phong cảnh, chùa chiền độc đáo, hấp dẫn. - Đối tượng phục vụ của hoạt động dịch vụ du lịch (DVDL)rất đa dạng và phức tạp về thành phần, nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, sở thích, phong tục tập quán, nếp sống.
Dịch vụ du lịch là ngành kinh doanh đặc biệt, hoạt động vừa mang tính kinh doanh vừa mang tính phục vụ xã hội.Hoạt động kinh doanh DVDL chủ yếu phục vụ nhu cầu của khách tham quan các di tích lịch sử, công trình văn hóa, phong cảnh thiên nhiên.Sự phát triển của hoạt động này tạo nguồn thu không chỉ cho riêng ngành du lịch mà còn có tác động tăng nguồn thu cho nhiều ngành khác như kinh doanh hàng hóa, kinh doanh vận tải, kinh doanh dịch vụ ăn uống, nghỉ ngơi, khách sạn. - Hoạt động dịch vụ du lịch có tính rủi ro cao: có những loại hoạt động DVDL để hoàn thành sản phẩm dịch vụ phải bỏ ra nhiều loại chi phí khác nhau nhưng đôi khi vẫn không hoàn thành được số sản phẩm mong muốn, trong khi đó kết quả của nó (nếu có) thì rất nhiều ngành khác nhau được hưởng. Vì để tổ chức một hoạt động dịch vụ du lịch cần phải bỏ rất nhiều chi 10 phí trước khi hoạt động đó được thực hiện như chi phí quảng cáo, chi phí đặt khách sạn. nhưng kết quả có thể có rất ít khách hàng sử dụng hoạt động dịch vụ du lịch đó.
Nhưng khi đã có khách hàng thì rất nhiều ngành khác nhau được hưởng thu nhập như khách sạn, vận chuyển, bưu điện, hải quan, thuế. -Sản phẩm của hoạt độngDVDL chỉ có một bộ phận nhỏ tồn tại dưới dạng vật chất còn đa phần không mang hình thái vật chất, thường tồn tại dưới dạng dịch vụ. Sản phẩm của hoạt động nàykhông tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể, quá trình sản xuất, phục vụ, tiêu thụ luôn gắn liền với nhau.Sản phẩm hoạt động dịch vụ du lịch không có quá trình nhập kho, xuất kho, chất lượng sản phẩm nhiều khi không ổn định. Do đó quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hoạt độngnàyhoàn thành thường được tiến hành đồng thời.
-Hoạt động dịch vụ du lịch có đặc điểm là không có yếu tố chi phí nguyên vật liệu cấu thành nên sản phẩm dịch vụ, mà chỉ có yếu tố chi phí nhân công, chi phí khác phục vụ chung cho hoạt động này. Vi phạm hành chính trong hoạt động dịch vụ du lịch 1. Vi phạm pháp luật và các loại vi phạm pháp luật 1. Khái niệm Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Các dấu hiệu của vi phạm pháp luật -Vi phạm pháp luật phải là hành vi xác định của con người, tức là bằng hành vi thực tế của cá nhân hoặc tổ chức tham gia các quan hệ xã hội. Phải căn cứ vào hành vi thực tế của các chủ thể mới có thể xác định được là họ thực hiện pháp luật hay vi phạm pháp luật. Hành vi xác định này có thể được thực hiện bằng hành động (cố ý gây thương tích) hoặc bằng không hành động (không cứu giúp người khác). 11 -Vi phạm pháp luật phải là hành vi trái pháp luật, tức là xử sự trái với các quy định của pháp luật,như: chủ thể không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật bắt buộc phải thực hiện.
Chủ thể sử dụng quyền hạn vượt quá giới hạn cho phép, chủ thể thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm. -Vi phạm pháp luật phải là hành vi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý, vì hành vi có tính chất trái pháp luật nhưng của chủ thể không có năng lực trách nhiệm pháp lý, thì không bị coi là vi phạm pháp luật. Năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể là khả năng mà pháp luật quy định cho chủ thể phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.