Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.Cơ sở lý luận về dịch vụ và chất lượng dịch vụ cho vay đối với người nghèo tại NHCSXH 1. Một số lý luận về hộ nghèo - Khái niệm hộ nghèo ở Việt Nam. Hộ nghèo là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người theo tiêu chí quy định được Chính phủ công bố ở từng thời kỳ. - Các tiêu chí phân loại hộ nghèo các khu vực ở Việt Nam hiện nay.
Chuẩn nghèo Việt Nam là một tiêu chuẩn để đo lường mức độ nghèo của các hộ dân tại Việt Nam. Chuẩn nghèo ở Việt Nam khác với chuẩn nghèo bình quân trên thế giới. Tiêu chí phân loại hộ nghèo từng giai đoạn khác nhau được quy định khác nhau. Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam số 09/2011/QĐ-TTg ký ngày 30/01/2011 về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015 như sau: - Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng /người/tháng (4.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; những hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo.
- Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng /người/tháng (6.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; những hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo. Mức chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội, chính sách kinh tế - xã hội khác và được áp dụng kể từ ngày 01/01/2011. download by : skknchat@gmail.com 7 Ở Việt Nam hộ nghèo sống ở hầu hết khắp nơi trong xã hội, nhưng nhìn chung, hộ nghèo có những đặc điểm sau: Thứ nhất, gần 80% người nghèo làm việc trong khu vực nông nghiệp và sống ở nông thôn, các vùng xa xôi hẻo lánh, dễ bị thiên tai tác động, những nơi có cơ sở hạ tầng vật chất tương đối kém phát triển. Do mức thu nhập của họ rất thấp và không ổn định, họ có khả năng tiết kiệm thấp và khó có thể đương đầu với tình trạng mất mùa, mất việc làm, thiên tai, suy sụp sức khoẻ và các tai hoạ tiềm năng khác.
Thứ hai, người nghèo thường có trình độ học vấn thấp hơn đại bộ phận dân cư, bị hạn chế về khả năng nhận thức và kỹ năng sản xuất kinh doanh. Các số liệu thống kê cho thấy rằng khoảng 90% người nghèo có trình độ phổ thông cơ sở hoặc thấp hơn (nhiều người nghèo khi vay vốn tín dụng họ không thể viết và ký tên được mà phải điểm chỉ). Điều này được giải thích rằng trình độ học vấn của các hộ nghèo làm giảm lợi tức từ tài sản và nguồn lực mà họ có và ngăn cản họ tìm kiếm công việc tốt hơn trong các ngành trả lương cao. Người nghèo thường tổ chức sản xuất theo thói quen, chưa biết mở mang ngành nghề và chưa có điều kiện tiếp xúc với thị trường, sản xuất thường mang nặng tính tự cung, tự cấp, chưa tạo được sản phẩm hàng hóa.
Thứ ba, hộ nghèo thường có ít hoặc không có đất đai và tài sản khác, chính điều này đã làm cho hộ nghèo gặp khó khăn trong quá trình làm ăn, không tận dụng được các cơ hội có lợi từ bên ngoài. Thứ tư, các hộ nghèo thường là hộ đông người và tỷ lệ người ăn theo cao (ít lao động). Thứ năm, phần lớn hộ nghèo thường sử dụng vốn vào sản xuất nông nghiệp hoặc những ngành nghề thủ công, buôn bán nhỏ, do vậy nhu cầu vốn thường mang tính thời vụ. download by : skknchat@gmail.com 8 - Nguyên nhân của nghèo đói: Nghèo ở nước ta do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan.
Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu vốn và kiến thức, kinh nghiệm, bên cạnh đó còn có nguyên nhân rủi ro và tệ nạn xã hội. Theo số liệu báo cáo từ điều tra xác định hộ nghèo của Bộ LĐ-TB-XH, hiện nay tồn tại nhiều nguyên nhân nghèo, trong đó có 8 nguyên nhân chủ yếu được tập hợp trong bảng 1.1: Các nguyên nhân nghèo chung cả nước và chia theo vùng ĐVT: % Thiếu Thiếu Thiếu Thiếu Bệnh Tệ Rủi Đông Chỉ tiêu lao kinh vốn đất tật nạn ro người động nghiệm Cả nước 63,96 20,82 11,40 31,12 16,94 01,18 01,65 13,60 ĐB 55,20 21,38 08,26 33,45 07,79 02,30 01,26 12,08 TB 73,60 10,46 05,56 47,37 05,78 00,58 00,52 09,39 ĐBSH 54,96 08,54 17,50 23,29 36,26 01,46 02,39 07,30 BTB 80,95 18,90 14,60 50,65 14,42 00,80 01,92 16,61 DHNTB 50,84 12,59 10,80 17,57 31,95 00,83 01,34 20,71 TN 65,95 26,12 07,76 27,11 09,03 01,22 01,32 13,72 ĐNB 79,92 20,08 08,64 20,60 17,54 00,37 00,39 09,50 ĐBSCL 48,44 47,73 05,47 05,88 04,22 00,87 01,80 11,95 (Nguồn: Bộ LĐ-TB-XH 2006) Các số liệu trong biểu cho thấy trong cả nước nguyên nhân nghèo hàng đầu của sự nghèo đói là thiếu vốn, nguyên nhân này chiếm đến 63,69% ý kiến được hỏi. Tiếp theo là các nguyên nhân thiếu kinh nghiệm sản xuất kinh doanh (31,122%), thiếu đất (20,82%), bệnh tật (16,94%), đông người (13,6%), thiếu lao động (11,4%). Trình tự này đúng với hầu hết các vùng, tuy có sự khác nhau về mức độ.
Sự khác nhau này phần nào phản ánh đặc điểm download by : skknchat@gmail.com 9 của từng vùng. Tầm quan trọng của công tác giảm nghèo Lịch sử phát triển xã hội cho thấy bất kỳ xã hội nào, quốc gia nào, chính đảng nào theo đuổi mục tiêu tiến bộ xã hội đều phải giải quyết vấn đề nghèo, bởi vì nghèo không chỉ là đối tượng mà còn là nguyên nhân, cản trở xã hội phát triển. Trong quá khứ cũng như hiện tại, chúng ta đều thấy tác động, ảnh hưởng tiêu cực của nghèo đến an ninh chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường,. Đặc biệt, ngày nay cùng với quá trình toàn cầu hoá kinh tế, bùng nổ thông tin, tốc độ phân hoá giàu nghèo trên thế giới ngày càng nhanh thì xung đột về kinh tế, chính trị càng phức tạp.
Tình trạng các vụ khủng bố, xung đột sắc tộc trên thế giới đang gia tăng có nguyên nhân không nhỏ là do nghèo, đặc biệt là bất bình đẳng (hay nhìn nhận nghèo một cách tương đối). Ngược lại, nghèo, bất bình đẳng có nguyên nhân từ sự bất ổn về kinh tế, chính trị, môi trường, văn hoá, xã hội,. Chính vì vậy, nghèo vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của bất ổn kinh tế, chính trị; nó giống như một vòng luẩn quẩn. Công cuộc giảm nghèo đã được Nhà nước Việt Nam đề ra và thực hiện từ nhiều năm nay.
Chúng ta có thể khẳng định giảm nghèo nhanh và bền vững là một trong những mục tiêu của tăng trưởng cả trên góc độ xã hội và kinh tế, đồng thời cũng là một điều kiện cho tăng trưởng bền vững. Về ngắn hạn, khi phân phối một phần đáng kể trong thu nhập xã hội cho chương trình giảm nghèo thì nguồn lực dành cho tăng trưởng kinh tế có thể bị ảnh hưởng, song xét một cách toàn diện về dài hạn thì kết quả xóa đói giảm nghèo lại tạo tiền đề cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Điều đó cũng đồng nghĩa như việc thực hiện người cày có ruộng đã tạo ra sự phát triển vượt bậc của nông nghiệp, nhờ đó mà nhiều nông dân đã thoát khỏi nghèo và có điều kiện tham gia thực hiện cách mạng xanh, tạo sự phát triển mới cho ngành nông nghiệp. download by : skknchat@gmail.com 10 Vai trò của giảm nghèo bền vững có tác động vô cùng to lớn đối với chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước.
Cái đói, cái nghèo đang hiện hữu sẽ luôn là nỗi ám ảnh của sự lạc hậu, kém phát triển của mỗi Quốc gia. Thực hiện chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững thành công là điều kiện tiền đề quan trọng để cả đất nước tiến lên hội nhập và phát triển cộng đồng. Giảm nghèo bền vững sẽ đem lại một nền kinh tế đất nước vững mạnh, dân giàu. Một khi đã có một tiềm lực kinh tế mạnh thì có thể nghĩ đến việc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng một Quốc gia phát triển về mọi mặt và có vị thế trên trường thế giới.
Giảm nghèo bền vững không đơn giản là việc phân phối lại thu nhập một cách thụ động mà phải tạo ra động lực tăng trưởng tại chỗ, chủ động tự vươn lên thoát nghèo. Giảm nghèo không đơn thuần là sự trợ giúp một chiều của tăng trưởng kinh tế đối với các đối tượng có nhiều khó khăn mà còn là nhân tố quan trọng tạo ra một mặt bằng tương đối đồng đều cho phát triển, tạo thêm một lực lượng sản xuất dồi dào và bảo đảm sự ổn định cho giai đoạn sau tăng trưởng nhanh hơn mạnh hơn (giai đoạn cất cánh). Cho vay đối với người nghèo tại NHCSXH 1. Khái niệm cho vay đối với người nghèo tại NHCSXH Cho vay đối với người nghèo là những khoản cho vay chỉ dành riêng cho hộ nghèo, có sức lao động, nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh.
NHCSXH cho hộ nghèo vay trong một khoảng thời gian nhất định, hộ nghèo có nghĩa vụ hoàn trả số tiền gốc và lãi vay; tuỳ theo từng đối tượng và từng thời kỳ khác nhau hộ nghèo vay vốn có thể được hưởng các chế độ ưu đãi khác nhau 1. Các hình thức cho vay đối với người nghèo Người nghèo được vay vốn NHCSXH thông qua năm chương trình: download by : skknchat@gmail.com 11 - Chương trình cho vay hộ nghèo để đầu tư sản xuất, kinh doanh, dịch vụ: Mua sắm các loại vật tư, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc gia cầm… phục vụ cho các ngành trồng trọt, chăn nuôi. Mua sắm các công cụ lao động nhỏ như: cày, bừa, cuốc, thuổng, bình phun thuốc trừ sâu… Các chi phí thanh toán cung ứng lao vụ như: thuê làm đất, bơm nước, dịch vụ thú y, bảo vệ thực vật… Đầu tư làm các nghề thủ công trong hộ gia đình như: mua nguyên vật liệu sản xuất, công cụ lao động thủ công, máy móc nhỏ.Chi phí nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy hải sản như: đào đắp ao hồ, mua sắm các phương tiện ngư lưới cụ… Góp vốn thực hiện dự án sản xuất kinh doanh do cộng đồng người lao động sáng lập và được chính quyền địa phương cho phép thực hiện. - Chương trình cho vay hộ nghèo về nhà ở theo quyết định 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tưởng Chính phủ.
Hộ nghèo vay vốn đề làm mới nhà ở hoặc vay sửa chữa nhà ở. Riêng đối với cho vay sửa chữa nhà ở, NHCSXH chỉ cho vay đối với hộ nghèo sửa chữa lại nhà ở bị hư hại, dột nát.