Chương 1: Cơ sở lí luận và khảo sát thực trạng dạy học tác phẩm văn chương ở Trung học Phổ thông. Chương 2: Những hình thức “vật chất hóa” hoạt động bên trong của học sinh trong giờ học tác phẩm văn chương ở Trung học Phổ thông. Chương 3: Thiết kế thể nghiệm giáo án dạy học tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa theo hướng “vật chất hóa” hoạt động bên trong của học sinh trong giờ học tác phẩm văn chương ở Trung học Phổ thông. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƢƠNG Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Những hiểu biết chung về hoạt động Hoạt động trong tâm lí học được hiểu là một hệ thống các thao tác hay hành vi ứng xử ít nhiều có ý thức. Hoạt động là phương thức tồn tại của cuộc sống, của chủ thể, là sự vận động sinh ra tâm lý, ý thức, nhân cách.Gớt từng nói “Khởi nguồn là hành động”. Con người chỉ thực sự tư duy, có tư duy khi hoạt động. Tư duy của con người không trực tiếp, tự nhiên có mà nảy sinh từ tồn tại.
Nói cách khác tư duy chỉ được nảy sinh trong quá trình tác động (hoạt động) và tồn tại là kết quả của quá trình đó. Hoạt động của con người trở thành đối tượng nghiên cứu của tâm lý học trải qua nhiều giai đoạn. Trước khi có lý thuyết về hoạt động, Freud, Tolman, Skinner,Watson đã có thuyết hành vi- hành động không có lý tưởng, không có mục đích, không có kế hoạch nhưng đến L.Vư gôt xki - nhà tâm lý học vĩ đại của Liên Xô và thế giới người đã đặt nền móng cho tâm lý học hoạt động đã có những tư tưởng ảnh hưởng quyết định đến toàn bộ nền tâm lý học Xô Viết thế kỷ XX. Lần đầu tiên trong lịch sử khoa học tâm lý, ý thức với tư cách là vấn đề của tâm lý học được xem xét trong bối cảnh của hoạt động lao động của con người.
Vư-gôt-xki là người phác họa ra cương lĩnh đầu tiên của tâm lý học về hoạt động. Lý thuyết này bao hàm một quan điểm mới về đối tượng của tâm lý học và phương pháp tiếp cận mới vào nghiên cứu tâm lý. Hành vi là một phần trong đối tượng của tâm lý học có công thức bao gồm: kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm xã hội và kinh nghiệm kép và được ngầm hiểu là hoạt động của con người. Ý thức cũng thuộc đối tượng của tâm lý học với tư cách là một bộ phận hợp thành của tâm lý học.
Ý thức được coi là một thực tại khách quan có chức năng điều chỉnh đối với hành vi và cùng với hành vi, ý thức là một mặt của hoạt động. Hoạt động bao giờ cũng có đối tượng, phải 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xác định được đối tượng cần chiếm lĩnh, nếu đối tượng chưa được xác định thì hoạt động chưa diễn ra. Gắn với phạm vi nghiên cứu của đề tài ta có thể thấy đối tượng hoạt động dạy của giáo viên là học sinh với tư cách là khách thể, đối tượng hoạt động học của học sinh là các tác phẩm văn chương cần chiếm lĩnh. Học sinh đóng vai trò khách thể khi chịu sự tác động, tổ chức, điều khiển của giáo viên đồng thời đóng vai trò chủ thể trong quá trình chiếm lĩnh tri thức vì không ai có thể học hộ, học thay các em khi các em không muốn học.
Học là công việc cá nhân, học là hoạt động của bản thân người học. Vư-gôt-xki cũng cho rằng hoạt động luôn luôn sử dụng công cụ vật chất cũng như tâm lý. Hoạt động lao động có mục đích là cội nguồn và tiền ảnh của bản thân hoạt động tâm lý bởi mọi hoạt động của con người đều có mục đích rõ ràng. Mục đích của hoạt động dạy nhằm phát triển học sinh một cách toàn diện cả về tri thức, kĩ năng và nhân cách.
Đối với người học, họ sẽ hứng thú hơn, học hiệu quả hơn khi xác định được mục đích học để làm gì. Có mục đích xa- học để nên người, biết sống có ý nghĩa, giá trị hơn trong cuộc đời, có mục đích gần- học cái này để làm cái sau, muốn trả lời câu hỏi này phải biết kiến thức này. Chính vì vậy trong quá trình dạy học GV luôn chỉ cho học sinh học điều này có ích gì. Mục đích học tập xuất phát từ động cơ học tập.Kôn định nghĩa “Động cơ là sự kích thích bên trong đối với hành động, là một nguyện vọng thoả mãn một nhu cầu nhất định” [30, tr.
Theo sự phân chia các động cơ của hành vi, động cơ học tập thuộc loại động cơ thứ cấp, là những gì được cá nhân ý thức có tác dụng kích thích, thúc đẩy cá nhân trong quá trình học tập, gắn liền với những nhu cầu. Động cơ học tập của học sinh được biểu hiện ra bên ngoài là lòng khao khát hiểu biết, khao khát chiếm lĩnh tri thức và hoàn thiện nhân cách của mình. Động cơ học tập là yếu tố vô cùng quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ hoạt động học. Kết quả học tập phụ thuộc vào động cơ học tập.
Động cơ học tập không có sẵn, không áp đặt từ bên 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngoài mà nó được hình thành dần dần trong quá trình chiếm lĩnh tác phẩm văn chương dưới sự tổ chức, hướng dẫn, điều khiển của giáo viên. Giáo viên cần giúp học sinh hình thành động cơ bên trong bởi động cơ học tập bên ngoài không xuất phát từ nhu cầu nhận thức, khao khát hiểu biết mà từ những yếu tố thi đua, thưởng phạt, đe doạ. gây ức chế hoạt động học. Động cơ bên trong được hình thành từ chính mục đích học tập, nhu cầu hiểu biết của học sinh và nhu cầu đó chính là nguồn tích cực bên trong và đư học sinh vào tình huống học tập tự giác, có mục đích.
Khi có động cơ học tập đúng đắn sẽ có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động học, kết quả học tập có tác dụng củng cố, nâng cao động cơ và để đạt kết quả học tập bền vững và phát triển thì động cơ học tập đòi hỏi thường xuyên được nuôi dưỡng. Vư-gôt-xki đã vận dụng phương pháp tiếp cận lịch sử và nguồn gốc xã hội vào nghiên cứu tâm lý người. Đây là một nét chủ yếu trong hệ thống các quan điểm tâm lý học. Phương pháp này là then chốt của lý luận tâm lý học hoạt động.
Nghiên cứu tất cả các chức năng tâm lý trong sự vận động tức là trong quá trình hình thành, biến đổi, tác động qua lại với nhau, chuyển hoá từ chức năng này sang thành chức năng kia. Bản chất tâm lý người vận hành và phát triển như là các quan hệ xã hội được chuyển thành các chức năng tâm lý hay nội dung của tâm lý người trong sự phát triển của nó chẳng qua là hiện tượng xã hội được chuyển vào trong, nội tâm hoá và chuyển thành riêng của nhân cách. Kế thừa và phát triển lý thuyết hoạt động của Vư-gôt-xki, Rubinxtein đã đề cập đến những nội dung mang tính thực tiễn và sâu sắc hơn của lý thuyết này. Đối với Rubinxtein luận điểm macxit về hoạt động của con người là điểm xuát phát của việc cải tổ tâm lý học.
Lao động sáng tạo ra bản thân con người. Đây là hạt nhân cơ bản của triết học macxit và cũng là hạt nhân của tâm lý học khoa học. Rubinxtein rất quan tâm tới quan hệ biện chứng giữa chủ thể và khách thể - khách thể trong hoạt động và tính chất gián tiếp của nó 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thông qua sản phẩm. Ông cho rằng hoạt động của con người không phải là phản ứng đối với kích thích bên ngoài, thậm chí không phải là quá trình làm việc với tính cách là thao tác của chủ thể lên khách thể mà đó là sự chuyển hoá của chủ thể lên khách thể đồng thời là sự chuyển hoá từ khách thể vào chủ thể.
Đây chính là quá trình chuyển vào trong hay nội tâm hoá như theo quan niệm của Vư-gôt-xki. Theo Rubinxtein, “hoạt động phải được hiểu là hệ thống thao tác hay hành vi ứng xử có sự tham gia của ý thức” [ 5, tr.Tâm lý, ý thức là một chất lượng chuyên biệt của đời sống con người. Tất cả các đặc điểm tâm lý bên trong của hoạt động hay thao tác về nguyên tắc có thể được biểu hiện ra trong sự diễn biến bên ngoài của hành động. Kết quả là trong quan hệ giữa hoạt động bên ngoài và tâm lý bên trong, hoạt động bên ngoài là phương tiện để tâm lý thể hiện- là điều kiện cần cho các hiện tượng tâm lý bên trong.
Các hiện tượng tâm lý bên trong là các mặt, các thành tố của hoạt động, phản ánh những điều kiện trong đó hoạt động được thực hiện. Sự qui định lẫn nhau của cái bên ngoài và bên trong như vậy biểu hiện sự thống nhất giữa hoạt động và ý thức. Trong truyền thống nhận thức luận triết học từ lâu đã phân biệt hoạt động bên trong và hoạt động bên ngoài. Hoạt động bên trong được hiểu là hoạt động của tư duy, ý thức.
Hoạt động bên ngoài là trực quan, vật chất, là những cử động.Tuy nhiên việc phân biệt chỉ có tính tương đối theo cách tiếp cận hoạt động. Không phải hoạt động bên trong là hoàn toàn có tính chất tâm lý còn hoạt động bên ngoài là phi tâm lý. Hoạt động bên trong và bên ngoài có quan hệ, tác động qua lại với nhau, Lê-on-chiep đã xây dựng nên và giải quyết trên thực tế vấn đề giữa ý thức và hoạt động trên cơ sở Vư-gôt-xki và Rubinxtein đặt ra. Đó là nguyên lý chủ đạo của tâm lý học Liên Xô, tâm lý học macxit.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cấu tạo chung của hoạt động: Trong từng hoạt động riêng biệt có hai hàng, một bên là động cơ, mục đích, phương tiện để đạt được nhiệm vụ đề ra, một bên là từng hoạt động riêng, hành động, thao tác. Đơn vị của hoạt động ở con người mang tính chủ quan của chủ thể là hoạt động, hành động, thao tác còn động cơ, mục đích, phương tiện là nội dung đối tượng của hoạt động. Giữa hai hàng có mối quan hệ tương ứng, chỉ trong mối tương quan ấy hai hàng kể trên mới quy định ra cấu trúc của hoạt động: hoạt động động cơ hành động mục đích nhiệm vụ thao tác phương tiện mặt chủ quan của chủ thể mặt đối tượng của hoạt động 1.