CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA VÀ TRUYỀN KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ 1. Quan hệ giữa văn học – văn hóa và hướng tiếp cận văn học từ văn hóa 1. Giới thuyết khái niệm văn hóa và một số đặc trưng của văn hóa Việt 1. Giới thuyết khái niệm văn hóa Văn hóa là gì? Đi tìm câu trả lời cho khái niệm này tưởng như rất quen thuộc nhưng lại vô cùng phong phú và phức tạp.
Mặc dù văn hóa là những gì gần gũi, thân thương, quen thuộc nhất đối với mỗi con người như cách hành xử, ứng xử… của con người trong đời sống đã tạo ra văn hóa và ngược lại văn hóa lại tái tạo ra bản thân con người. Trong quá trình phát triển và tác động qua lại lẫn nhau ấy nó đã vô hình dung tạo ra những khái niệm văn hóa vô cùng độc đáo của các nhà khoa học khi họ nghiên cứu, khám phá đi tìm khía niệm văn hóa bằng cặp mắt chuyên ngành của mình. Học giả Thái Văn Kiểm dẫn trong Kinh thi 2 câu thơ: Quan thiên văn dĩ sát thời biến Quan nhân văn hóa thành thiên hạ Có nghĩa là: Nhìn hiện tượng trên trời để xét lại sự biến thiên của thời tiết Nhìn hiện tượng của người ta trong xã hội để sửa đổi thiên hạ Điều này xuất phát từ việc giải thích từ “văn” của người xưa khi họ quan sát cuộc sống thấy vạn vật đều có sự sắp xếp gọn gàng, tinh tú nên gọi là “văn” sau đó bèn nghĩ ra chữ viết để ghi lại sự tinh tú đó gọi là văn tự. Còn “hóa” là giáo hóa và giảng dạy.
Như vậy, ở Trung Quốc thời cổ đại Văn hóa được xem là văn tự và giáo hóa. Ở Phương Tây từ Văn hóa bắt nguồn từ tiếng La tinh nghĩa là trồng trọt, nuôi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 11 dưỡng, luyện tập, khai khẩn, khai phát. Ở Việt Nam khái niệm văn hóa cũng được các nhà nghiên cứu định nghĩa theo những cách khác nhau như nhà nghiên cứu Đào Duy Anh có viết: “Văn hóa là những giá trị biểu hiện cuộc sinh hoạt mạnh mẽ của loài người trong cả phương diện vật chất, tinh thần và xã hội”. Với cách tiếp cận này, ông đã đề cập đến phạm vi rất rộng của văn hóa, bao hàm tất cả mọi sinh hoạt của con người trong đời sống trong đó có cả những sinh hoạt sáng tạo ra những giá trị văn hóa.
Trong quan niệm về văn hóa Đào Duy Anh có sự gặp gỡ với Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống loài người sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, phát luật khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loại người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn”[9, 431]. Theo Trần Quốc Vượng: “Văn hóa theo nghĩa rộng là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người, bao hàm cả kỹ thuật, kinh tế… để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử, một thái độ, tổng quát của con người về vũ trụ, với một hệ thống những chuẩn mực, những giá trị, những quan niệm… tạo nên phong cách diễn tả tri thức và nghệ thuật của con người” [75; 25].
Cùng đưa ra khái niệm về định nghĩa văn hóa Trần Ngọc Thêm có viết: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”[45;10]. Năm 2002 UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được coi như là một tập hợp đặc điểm về tâm linh, vật chất, trí tuệ và tình cảm, của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống và phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”. Như vậy đi tìm câu trả lời cho khái niệm văn hóa chúng tôi đồng tình với các ý kiến về văn hóa của các nhà nghiên cứu, đồng thời nhận ra rằng: Văn hóa là sự tổng hòa các quan hệ tự nhiên - xã hội - con người. Tuy nhiên bản thân nó lại mang những giá trị riêng tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo cho từng vùng, từng miền, từng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 12 quốc gia dân tộc góp phần hình thành và thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng.
Đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam là tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt được vun đắp nên qua lịch sử ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, nó được trao truyền từ đời này qua đời khác, tất nhiên trong quá trình ấy nó được tiếp thu, gạn lọc, bổ sung và phát triển tạo ra tính truyền thống, từ đó tạo nên những đặc trưng cơ bản cho văn hóa Việt Nam. Trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, giáo sư Trần Ngọc Thêm cũng có đề cập đến một cách cụ thể bốn đặc trưng cơ bản của Văn hóa: - Văn hóa có tính hệ thống: tức là nó bao gồm tổng thể các yếu tố có quan hệ lẫn nhau. Nó giống như một cái cây mà ở đó gốc là văn hóa có hai cành cơ bản là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần và từ hai tiểu văn hóa này đã hình thành vô vàn các cành nhỏ khác, cứ thế sản sinh ra tiếp các bộ phận khác cho cây văn hóa và như vậy tạo nên tính hệ thống cho văn hóa dân tộc. - Đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hóa là tính giá trị.
Tính giá trị cần để phân biệt giá trị với phi giá trị (ví dụ: Thiên tai, majia …) nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người, đồng thời nó còn được thể hiện thông qua các giá trị: Các giá trị văn hóa theo mục đích có thể chia thành: các giá trị phục vụ phục vụ cho nhu cầu vật chất của con người - giá trị vật chất và phục vụ cho nhu cầu tinh thần - giá trị tinh thần. Các giá trị văn hóa theo ý nghĩa được chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ. Các giá trị văn hóa theo gian được chia thành các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời. - Đặc trưng thứ ba của văn hóa là tính nhân sinh.
Vì văn hóa là một hiện tượng xã hội là sản phẩm của hoạt động thực tiễn (bao gồm lao động sản xuất, đấu tranh, nghiên cứu và thực nghiệm khoa học…) của con người. Văn hóa đối lập với con người tự nhiên, là tự nhiên đã được biến đổi do Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 13 tác động của con người. Ví dụ: Hồ núi Cốc ở Thái Nguyên. Nhìn những ngọn núi vốn tự nhiên sinh ra có hình thù giống chiếc cốc nếu không được con người huyền thoại hóa bằng câu chuyện cổ thì chắc chắn nó không trở thành một hiện tượng văn hóa.
Do vậy các hiện tượng văn hóa có được là do nhân dân ta đã đặt những tên gọi khác nhau gắn liền với những câu chuyện huyền thoại. Chính vì vậy, tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội (do con người sáng tạo ra) với các giá trị tự nhiên. - Đặc trưng thứ tư của văn hóa là tính lịch sử. Vì văn hóa luôn được hình thành trong suốt quá trình lâu dài và được tích lũy qua nhiều thế hệ kế tiếp nhau tạo thành truyền thống văn hóa.
Từ những nghiên cứucủa mình, Trần Ngọc Thêm nêu ra những đặc trưng gốc định vị văn hóa Việt Nam là: “Tính cộng đồng và tính tự trị, lối sống trọng tình nghĩa, lối tư duy tổng hợp, biện chứng, tính linh hoạt, dung hợp trong tiếp nhận, khuynh hướng ưa hài hòa, tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên”[45; 295]. Giáo sư Trần Ngọc Giàu trong công trình “Giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam” đã đưa ra 7 giá trị tinh thần truyền thống: “yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người và vì nghĩa” theo ông giá trị hàng đầu chính là lòng yêu nước, là sợi chỉ đỏ xuyên xuốt toàn bộ lịch sử, tư tưởng dân tộc [10; 293]. Trong hội thảo khoa học năm 1983 giáo sư Trương Chính nói đến 5 giá trị:“tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc, cần cù và thông minh, trọng đạo lý tình người, và lạc quan, yêu đời”. Giáo sư Hà Văn Tấn khi viết về sự hình thành bản sắc dân tộc Việt nam cũng khảng định sự tồn tại của tính dân tộc và tâm lý các dân tộc: “Giá trị tinh thần tính cách dân tộc Việt Nam mà điển hình là tinh thần yêu nước, kiên cường gắn bó với quê hương xứ sở…ý thức sâu sắc và vững bền về bản ngã, tinh thần cố kết cộng đồng, cần cù chịu thương, chịu khó, giỏi chịu đựng gian khổ, tình nghĩa ứng xử mềm dẻo, linh hoạt, dễ thích nghi hội nhập” [47; 16].
Truyền thống văn hóa với những đặc trưng đặc thù ấy được Nguyễn Đức Tồn, trong cuốn “Đặc trưng văn hóa dân tộc” đã đúc rút theo những giá trị đặc trưng đậm đà bản sắc dân tộc Việt như: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 14 - Nền văn hóa Việt Nam coi trọng con người, có truyền thống trọng tình nghĩa, nhân ái. - Có ý thức giữ phẩm giá, nhân cách, trọng danh dự, trọng lẽ phải. - Lối sống khoan dung, khoan thứ, trọng quan hệ, lạc quan. - Ứng xử tế nhị, lối sống giản dị, mộc mạc.
- Khuynh hướng thẩm mỹ ưa sự hài hòa, thích cái đẹp nhỏ xinh, sống hòa hợp và yêu thiên nhiên. Nghị quyết 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII đưa ra những đặc trưng bản sắc dân tộc như: - Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc. - Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc. - Lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý.
- Đức cần cù sáng tạo trong lao động. - Sự tinh tế trong cư xử, tính giản dị trong lối sống.