Chương 1: CON NGƯỜI VÀ CHIEN LƯỢC "TRONG NGƯỜI" TRONG TƯ TƯỞNG HÒ CHÍ MINH 1. Quan niệm cơ bản của Hồ Chí Minh về con người Suốt cuộc đời đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, Hồ Chí Minh quan tâm đến luân lý cách mạng, đạo đức làm người. Tuy không có một tác pham nào ban riêng về con người, nhưng quan niệm về con người lại được hiểu thật đa dạng, phong phú, trở thành một vấn đề xuyên suốt, trong toàn bộ hệ thống tư tưởng của Người. Vẫn đề con người luôn luôn được nhắc đến như một vấn đề thiêng liêng nhất, cao cả nhất của sự nghiệp cách mạng mà Người theo đuôi.
Nó trở thành mục tiêu, chiến lược cách mạng, được toả sáng trong từng suy nghĩ, chủ trương, hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đối với Hồ Chí Minh, con người vừa ton tại với tư cách cá nhân, vừa là thành viên của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sông tập thé và cuộc sống cá nhân hài hòa, phong phú. Trong quan niệm của Hồ Chí Minh: "Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước.
Rộng nữa là cả loài người" [44, tr. Với cách hiểu này, con người là con người xã hội, là một thành viên của cộng đồng xã hội nhất định. Cộng đồng đó, như nhân dân ta từ lâu thường quan niệm, đó là cộng đồng ba cấp nhà - làng - nước; còn Chủ tịch Hồ Chi Minh lại chỉ ra một cách cụ thể hơn, rộng hơn, đó là gia đình, họ tộc, làng xóm, dân tộc cho đến nhân loại. Quan niệm đó thé hiện ở chỗ Người chưa bao giờ nhìn nhận con người một cách chung chung, mà xem xét con người trong các mối quan hệ xã hội của nó.
Đó là một hệ thống phức tạp, nhiều chiều, thé hiện bản chất xã hội và tính nhân văn của con người. Khi bàn vê chính sách xã hội, cũng như ở moi 14 nơi, mọi lúc, trong mọi hoan cảnh, Người luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của con người với tư cách nhu cầu chính đáng. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh không có con người trừu tượng. Bao giờ Người cũng nói đến con người cụ thể.
Con người ở bất cứ đâu và bao giờ cũng vậy, nó không tôn tai ở một bình diện, một chiều, mà ở nhiều bình diện, nhiều chiều, bởi vì nó được đặt vào những mỗi quan hệ khác nhau: - Về các mối quan hệ: đó là quan hệ vũ trụ - tự nhiên, với tộc loại, với cộng đồng, với nhóm xã hội và với chính bản thân mình - Về vị trí: đó là vị trí chủ động hay thụ động, quản lý hay bị quản lý, chủ thé hay khách thé. Ngoài ra còn những quan hệ vô cùng quan trọng khác như: giữ được mình (tính độc lập, tự chủ) hay đánh mất mình (tha hoá). Bản thân mỗi con người cũng từ mối quan hệ riêng và từ vị trí riêng của mình mà có những cách nhìn nhận, cảm nhận khác nhau. Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tồn tại như một phạm trù bản thể luận có tính trừu tượng hóa, khái quát hóa, mà được đề cập đến một cách cụ thé.
Đó là nhân dân Việt Nam vào những năm 20 của thé kỷ XX - những con người lao động nghèo khổ bị áp bức cùng cực dưới ach thống tri của phong kiến, dé quốc Pháp; là dân tộc Việt Nam dang bị đô hộ bởi chủ nghĩa thực dân. Mở rộng hơn nữa là những "người nô lệ mất nước", "người cùng khổ". Logic phát triển tư tưởng của Hồ Chí Minh là xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước để đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa quốc tế chân chính. Theo lôgíc phát triển tư tưởng ấy, khái niệm "con người" của Hồ Chí Minh tiếp cận với khái niệm "giai cấp vô sản cách mạng".
Người đề cập đến giai cấp vô sản cách mạng và sự thống nhất về lợi ích căn bản của giai cấp đó với các tầng lớp nhân dân lao động khác, đặc biệt là nông dân. Người nhận thức một cách sâu sắc răng, chỉ có cuộc cách mạng duy nhất - cách mạng vô sản và tất yêu đạt tới mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải 15 phóng toàn thể nhân loại khỏi mọi sự nô dịch, áp bức. Toàn bộ các tư tưởng, lý luận bàn về cách mạng Việt Nam về thực chất chỉ là sự cụ thể hóa bằng thực tiễn tư tưởng về con người Việt Nam của Hồ Chí Minh. Có thé nói, khái niệm "con ñ0gười" tựa hồ như đã mở ra và khép lại quá trình tư duy và hoạt động của Hồ Chí Minh.
Suốt quá trình ấy, vấn đề giải phóng dân tộc, đem lại tự do, hạnh phúc cho con người, xây dựng và rèn luyện con người bao giờ cũng là trung tâm của tư duy, mục tiêu của mọi hoạt động yêu nước và cách mạng của Hồ Chí Minh. Con người - độc lập - tự do và hạnh phúc của con người, đó là mục tiêu cao nhất và thường xuyên; vì nó mà Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn cuộc đời của mình: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành" [43, tr. Tình thương người của Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở mức đồng cảm xót thương với con người một cách thụ động; Cũng không phải là tỏ mối thông cảm từ trên nhìn xuống; Không phải là tiếng kêu "thương thay cũng một kiếp người" oán thán số phận con người bị chà đạp; Và càng không phải là lòng từ bi bác ái mơ hồ không vượt qua được; Cũng không phải là lòng yêu dân yêu nước chung chung.mà đó là lòng nhân ái tích cực với một niềm thông cảm sâu sắc "thương người như thê thương thân" trước tình cảnh nước mất, nhà tan của người dân thuộc địa; đó là tính thần đấu tranh quyết liệt với lòng căm thù không đội trời chung chống lại kẻ xâm lược và giai cấp thống trị tàn bạo, đã man đã và đang huỷ diệt cuộc sống, chà đạp lên phẩm giá con nguoi. Tư tưởng vi con người, tình yêu thương đối với con người là đức tinh lớn của Hồ Chí Minh.
Nó quán triệt trong mọi lời nói, mọi việc làm của Người, trên mọi chủ trương, chính sách mà Người đề ra và thực hiện.Từ hoạt động thực tiễn cách mạng, tiếp thu và thấm nhuần chủ nghĩa Mác - 16 Lénin, chủ nghĩa nhân van cộng san, tiếp thu tinh hoa của văn minh, văn hoa nhân loại kết hợp kế thừa và tiếp biến thành truyền thống đạo đức nhân ái, nhân nghĩa mới Việt Nam. Tư tưởng vì con người và lòng nhân ái của Hồ Chí Minh đã mang một chất lượng mới, không chỉ bó hẹp trong tình yêu thương xót xa trước nỗi khổ nhục của đồng bao, của mọi tang lớp nhân dân lao động bi áp bức ở trong nước, mà lòng nhân ái của Người còn mở rộng ra cả loai người khắp cả năm châu bốn biển, hướng việc giải phóng con người, giải phóng dân tộc mình và giải phóng các dân tộc thuộc địa, nhằm phát huy sức mạnh vốn có, tiềm năng của con người và của dân tộc để tự cứu mình, tự quyết định vận mệnh của mình. Chính vì vậy sự gặp gỡ giữa H6 Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lénin là điều rat tự nhiên. Tư tưởng của Người pha hợp với hệ tư tưởng lớn nhất của thời đại.
Người đã tìm thay ở chủ nghĩa Mác - Lênin con đường dé thực hiện ước muốn của Người là giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân, đế quốc Pháp và giải phóng những người cần lao khỏi chế độ người áp bức bóc lột người và suốt đời phan dau cho mục tiêu cao quí đó, bat chấp mọi khó khăn gian khô, ké cả sự đe doa đến tính mệnh của mình. Hồ Chí Minh không chỉ yêu thương những người bị áp bức bóc lột mà còn nhận thấy một cách sâu sắc sức mạnh và tiềm năng cách mạng to lớn của họ. Theo Người nếu họ được thức tinh và tô chức lại, có sự lãnh đạo đúng đắn của một đảng cách mệnh thì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp nhất định sẽ thành công. Ngay từ năm 1921, Hồ Chí Minh đã thay ở nhân dan bị áp bức, bóc lột, gầy com xơ xác ấy cái sức mạnh lấp biên vá trời, đã thay ở họ trí tuệ lớn lao.
Người đã chỉ ra rằng: " Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nỗ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến" [40, tr. Ở Hồ Chí Minh là ca một tình thương bao la rộng lớn. Trong tinh thương yêu đó có chỗ cho mọi người, không sót một ai. Lòng nhân ái và tình 17 người của Hồ Chí Minh sâu thắm như biển cả, nhưng lại gần gũi, thiết thực như nắm gạo, hạt muối; Hồ Chí Minh vĩ đại và cao cả nhưng lại rất đỗi bình di, thân thương.
Cả cuộc đời cua Hồ Chí Minh trong suốt như pha lê, sáng như sao Khuê. Sống khiêm tốn giản dị, hoà nhập, không chút mảy may màng danh lợi cho bản thân. Sự bình dị, khiêm tốn của Người làm cho biết bao người nước ngoài phải ngạc nhiên, coi như thần thoại. Một lãnh tụ nỗi tiếng của Ấn Độ, Thủ tướng Indira Gandi viết: Đức độ, tính giản di, tình yêu nhân loại, sự tận tụy hy sinh và lòng dũng cảm của Hồ Chủ tịch sẽ cổ vũ thế hệ mai sau.
Con người là một chỉnh thé thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội. Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn quan niệm con người, trong cấu trúc nhân cách, là một hệ thống bao gồm tổng hoà nhiều yếu tố hợp thành như: thé xác và tâm hồn, thể lực và trí tuệ, cái sinh vật và cái xã hội. Con người ai cũng có chỗ hay chỗ dở, ai cũng có tính tốt tính xấu, có thiện có ác. Vấn đề là làm sao cho phần xâu mat dan đi, phan tốt nảy nở như hoa mùa xuân; con người ta sinh ra, ai cũng lớn lên, già đi rồi chết; người ta ai cũng muốn sung sướng, mạnh khoẻ.
Cách quan niệm như thế cho phép Hồ Chí Minh đạt tới cái nhìn toàn diện về con người; là cơ sở dé Người hiểu, cảm thông, lo lắng cho con người. Đây là tư tưởng chủ đạo, bao trùm và xuyên suốt, vừa có ý nghĩa như tiền đề xuất phát đồng thời lại là mục dich trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.