CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Thuyết Đa trí tuệ 1. Sự ra đời của thuyết Đa trí tuệ Năm 1904, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Công cộng tại Paris đã đề nghị nhà tâm lí học Pháp Allfred Binet và một nhóm đồng nghiệp xác định những học sinh ở cấp tiểu học dễ bị “trượt nhất” để lưu tâm bồi dưỡng cho các em. Nhờ nỗ lực của các nhà khoa học, những trắc nghiệm đầu tiên về trí tuệ ra đời.
Du nhập sang Hoa Kì mấy năm sau, các trắc nghiệm về trí tuệ đã trở nên phổ biến, người ta cho rằng trí thông minh có thể đo được một cách khách quan và quy thành một chỉ số gọi là “chỉ số thông minh IQ”. Tuy nhiên, gần 80 năm sau khi các trắc nghiệm đầu tiên về trí tuệ được triển khai, nhà tâm lí học tại trường Đại học Havard - Howard Gardner đã thách thức niềm tin ấy. Ngoài cuốn “Frames of Mind - The Theory of Multiple Intelligences” (Cơ cấu trí khôn - Lí thuyết về nhiều dạng trí khôn) (1983) - cuốn sách được coi là “gối đầu giường của sinh viên sư phạm và các nhà tâm lí học”, Howard Gardner còn là tác giả của những cuốn sách nổi tiếng khác như: The mind’s new science: A history of the cognitive revolution (Một khoa học mới về trí khôn: Lịch sử cuộc cách mạng nhận thức (1985), The unschooled mind (Trí khôn phi học đường) (1991)… Thuyết Đa trí tuệ, gọi tắt là MI (cách gọi tắt của Theory of Multiple Intelligences) ra đời từ sự tổng kết, xem xét, đánh giá nhiều nguồn tư liệu của Howard Gardner. Ông đã từng nhận được nhiều gợi ý từ nhóm cộng sự hoạt động trong Dự án Zero của trường Đạ học Havard.
Năm 1979, với tư cách là một nhà nghiên cứu của trường Havard, Howard Gardner đã được một tổ 11 chức nhân đạo Hà Lan, Quỹ Bernard Van Leer đề nghị khảo sát về tiềm năng con người. Lời mời này đã dẫn đến việc thành lập Dự án Zero, được coi là “bà mụ” của thuyết Đa trí tuệ. Mặc dù Garder đã từng nghĩ đến khái niệm “có nhiều loại trí tuệ” ngay từ những năm giữa thập kỉ 1970 nhưng đến năm 1983, việc ấn hành cuốn “Frames of Mind” của ông mới thực sự là ngày ra đời của thuyết Đa trí tuệ. Trong cuốn sách này, ông đã đề cập tới ít nhất 7 dạng trí tuệ, sau này ông đề cập thêm dạng trí tuệ thứ 8 và thảo luận về khả năng tồn tại của dạng trí tuệ thứ 9.
Trong thuyết Đa trí tuệ hay còn gọi là thuyết Trí tuệ đa nguyên, Gardner tìm cách mở rộng phạm vi của tiềm năng vượt ra ngoài chỉ số IQ. Ông chỉ trích một cách nghiêm túc giá trị của phương pháp xác định trí thông minh bằng việc tách cá thể ra ngoài môi trường học tập tự nhiên và đề nghị mỗi cá nhân làm những công việc riêng lẻ mà họ chưa từng làm bao giờ. Ông gợi ý trí tuệ gắn liền với khả năng giải quyết vấn đề và tạo ra sản phẩm trong một bối cảnh thực tế. Kể từ khi cuốn “Frames of Mind” ra đời, ý thức của các nhà giáo dục về các dạng trí tuệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ.
Xuất phát từ mô hình thoạt đầu được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục năng khiếu, rải rác ở các trường học đơn lẻ trong Hợp chủng quốc Hoa Kì vào giữa và cuối thập kỉ 80, thuyết Đa trí tuệ trong 20 năm sau đó đã vươn tầm ra hàng vạn trường học, hàng chục vạn giáo viên ở Hoa Kì cũng như nhiều nước trên khắp thế giới [1]. Các dạng trí tuệ Theo thuyết Đa trí tuệ (ĐTT), Howard Gardner đã tập hợp các tiềm năng của con người vào trong 8 dạng trí tuệ như sau: (1) Trí tuệ ngôn ngữ: Thể hiện ở việc sử dụng hiệu quả ngôn ngữ thông qua lời nói hoặc chữ viết. Các phóng viên, nhà văn, nhà thơ, diễn giả hay luật sư. thường sở hữu dạng trí tuệ này.
Họ sở trường về tranh biện, thuyết phục thông qua sử dụng lời nói; thích sử dụng âm thanh của từ ngữ thông qua chơi chữ, đố từ; thích kể chuyện bởi khả năng ghi nhớ các sự kiện. Những người 12 thông minh ngôn ngữ có thể trở thành bậc thầy của đọc và viết bởi sự ham đọc và có khả năng diễn đạt rõ ràng, mạch lạc. (2) Trí tuệ logic - toán học: Thể hiện ở khả năng sử dụng hiệu quả các con số, biểu đồ, thống kê và sự lôgic. Các nhà khoa học, kế toán viên hay lập trình viên thường sở hữu dạng trí tuệ này.
Họ có khả năng suy luận tốt, hiểu rõ nguyên nhân của các vấn đề cũng như luôn tìm ra các giải pháp cho vấn đề. Đồng thời họ là những người ưa chuộng những quan điểm dựa trên lý trí trong cuộc sống. (3) Trí tuệ không gian: Thể hiện ở khả năng tiếp nhận thế giới không gian thông qua thị giác. Người thông minh không gian có sự nhạy cảm về màu sắc, đường nét, hình khối.
Họ có khả năng quan sát, thể hiện bằng đồ thị, có ý tưởng về không gian thị giác và tự định hướng một cách dễ dàng trong một ma trận không gian. Đây là điểm nổi bật ở hoạ sĩ, kiến trúc sư, người trang trí nội thất, phi công, người đi săn, nhà thám hiểm. (4) Trí tuệ hình thể - động năng (vận động): Thể hiện ở sự thành thạo trong việc sử dụng hình thể để biểu lộ cảm xúc, thực hiện động tác hoặc khéo léo dùng hai bàn tay để lao động sản xuất. Những cá nhân có tài năng vận động là những người thích thực hành, thích vận động cơ thể (như vũ công, vận động viên, nghệ nhân điêu khắc, thợ cơ khí, thợ may, bác sĩ phẫu thuật.
Họ có khả năng phối hợp các động tác, khả năng giữ thăng bằng, có sức mạnh cơ bắp hoặc sự khéo tay, mềm dẻo. (5) Trí tuệ âm nhạc: Dạng trí tuệ này bao gồm sự nhạy cảm đối với nhịp điệu, âm sắc, âm tần của một bản nhạc. Đó là khả năng cảm nhận âm nhạc, sáng tác nhạc, chơi nhạc cụ hay biểu diễn các hình thức âm nhạc. Người thông minh âm nhạc có thể sành nhạc theo lối trực giác hoặc nắm bắt âm nhạc một cách bài bản.
Ca sĩ, nhạc sĩ, nhạc công.là những người sở hữu trí tuệ này. (6) Trí tuệ giao tiếp (tương tác): Biểu hiện ở khả năng tương tác, dễ dàng thấu hiểu và phối hợp với người khác, có xu hướng hướng ngoại. Những 13 cá nhân có trí thông minh giao tiếp đặc biệt nhạy cảm đối với tâm trạng, tính khí, động cơ và cảm xúc của người khác. Họ có năng lực hiểu và làm việc được với những người khác, có khả năng quản lí các mối quan hệ bởi vậy rất phù hợp với vai trò môi giới, quản trị mạng, người hoà giải, nhà ngoại giao hoặc giáo viên.
(7) Trí tuệ nội tâm: Thể hiện ở năng lực tự nhận thức được bản thân và hành động một cách phù hợp trên cơ sở tự hiểu mình. Những người có trí thông minh này thường sống hướng nội, có đời sống nội tâm phong phú, nhiều ước mơ, mục tiêu và động lực rõ ràng. Họ là người rất hay tự xem xét nội tâm và ham thích được trầm tư suy nghĩ, tự lập và thích làm việc một mình hơn là làm việc với người khác. Đó có thể là nhà cố vấn, nhà thần học, doanh nhân.
(8) Trí tuệ tự nhiên học (thiên nhiên): Là khả năng nhận biết, hiểu và phân loại các khía cạnh khác nhau của tự nhiên. Những người thông minh thiên nhiên có tài quan sát và đánh giá cao thế giới tự nhiên. Họ nhạy cảm với các vấn đề của môi trường sống xung quanh (thời tiết, đặc điểm thực vật và động vật. Ngoài ra, họ còn có khả năng đặc biệt trong việc xác định và phân loại các loài và các yếu tố khác nhau của môi trường tự nhiên.
Gần đây, Gardner đã bổ sung dạng trí tuệ thứ 9 - trí tuệ Sinh tồn mà theo ông mô tả là dạng trí tuệ về những băn khoăn cho các vấn đề tối hậu của cuộc sống, như ý nghĩa cuộc sống, vấn đề tội ác và các mục tiêu phấn đấu của nhân loại. Hiện nay, trí tuệ Sinh tồn chưa được chính thức thừa nhận như một dạng trí tuệ thực sự trong thuyết ĐTT [1]. Nội dung quan trọng của thuyết Đa trí tuệ Ngoài các phần mô tả 8 dạng trí tuệ, H. Gardner còn lưu ý vài điểm quan trọng trong thuyết ĐTT, đó là: (1) Mỗi người đều sở hữu đủ 8 dạng trí tuệ: Lí thuyết ĐTT của H.
Gardner đã xác định mỗi con người đều có cả 8 dạng trí tuệ và chúng ta cần 14 thừa nhận điều đó. Tuy nhiên, ở mỗi cá nhân các dạng trí tuệ này lại có sự hoạt động phối hợp theo những cách thức riêng, vì vậy trong 8 dạng trí tuệ sẽ có một vài trí tuệ nổi trội hơn so với các dạng trí tuệ khác. (2) Các cá nhân có thể phát triển mỗi dạng trí tuệ tới một mức độ nhất định: H. Gardner cho rằng, về mặt lí thuyết thì mọi người đều có khả năng phát triển cả 8 loại hình trí tuệ tới một mức độ thích đáng nếu họ được động viên, khuyến khích, hỗ trợ và học tập.
Các dạng trí tuệ này có thể thay đổi tuỳ theo yếu tố tác động lên nó. (3) Các dạng trí tuệ thường hoạt động phối hợp theo những cách thức phức tạp: H. Gardner chỉ ra rằng không có trí tuệ nào tồn tại độc lập, riêng biệt trong đời người (trừ một vài trường hợp hiếm hoi các nhà bác học chuyên sâu hoặc người tổn thương não). Các dạng trí tuệ được tách riêng trong thuyết ĐTT với mục đích giúp chúng ta phân tích đặc trưng cơ bản của chúng.
Trên thực tế, các dạng trí tuệ luôn tương tác, đan xen với nhau. (4) Có nhiều cách bộc lộ trí thông minh trong từng lĩnh vực: Thuyết ĐTT nhấn mạnh đến sự phong phú, đa dạng của các cách thức bộc lộ năng khiếu trong các dạng trí tuệ khác nhau. Không có một chuẩn mực nào mà một cá nhân phải thực hiện, thoả mãn để được đánh giá là thông minh trong một lĩnh vực xác định. Những nội dung quan trọng nêu trên có thể xem như gợi ý để GV Thuyết ĐTT nhấn mạnh đến tính đa dạng, phong phú của các phương thức biểu lộ năng khiếu trong các dạng trí tuệ khác nhau.trong các nhà trường suy ngẫm, chọn lựa phương pháp dạy học sao cho phù hợp, đồng thời linh hoạt thay đổi phương pháp để tạo nên những giờ học thú vị cho HS.