CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Vài nét về thi pháp học Thi pháp học là bộ môn khoa học đặc thù, nó hướng tới việc khám phá cấu trúc biểu hiện của nghệ thuật trên các các cấp độ khi nghiên cứu, phân tích hay phê bình một tác phẩm văn học. Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì “thi pháp học là là khoa học nghiên cứu thi pháp, tức là hệ thống các phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học” [7, tr 304]. Như vậy hiểu một cách đơn giản thì thi pháp học là một bộ môn khoa học nghiên cứu các hình thức nghệ thuật của văn học.
Còn theo Từ điển Bách khoa văn học giản yếu Nga ghi lại thì “Thi pháp học là khoa học về cấu tạo của các tác phẩm văn học và hệ thống các phương tiện thẩm mỹ mà chúng sử dụng. Trong công trình Những vấn đề thi pháp Đôxtoiepxki, tác giả M. Bakhtin không nêu ra định nghĩa trực tiếp về thi pháp học nhưng nội dung nghiên cứu của ông về Đôxtoiepxki như “Cái nhìn nghệ thuật độc đáo” hay “ngôn ngữ đa giọng” cũng đã xác nhận nội dung của thi pháp học. Công trình Thi pháp văn học Nga cổ của D.
Likhasốp nghiên cứu về hệ thống thể loại, cách khái quát nghệ thuật, các phương tiện văn học, không gian, thời gian nghệ thuật cũng đã đề cập nhiều những khái niệm, nhiều những vấn đề của thi pháp. Các nhà nghiên cứu văn học phương Tây cũng có nêu ra một vài định nghĩa khác về thi pháp học nhưng tựu chung lại thì đều xem văn học như một nghệ thuật. Theo nhà lí luận văn học người Nga V. Girmunxki thì : “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi ca (văn học) với tư cách là một nghệ thuật” [8, tr 5].
Như vậy, tác giả đã định nghĩa về thi pháp học trong sự lồng ghép giữa tính khoa học và tính nghệ thuật của văn học. Từ định nghĩa này nhà nghiên cứu văn học Viện sĩ V. Vinogradop đã cụ thể hóa vấn đề thi pháp như sau “Thi pháp học là khoa học về hình thức, các dạng thức, các phương tiện, phương thức tổ chức 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tác phẩm của sáng tác ngôn từ, về các kiểu cấu trúc và các thể loại tác phẩm văn học. Nó muốn bao quát không chỉ là các hiện tượng của ngôn từ thơ, mà còn là cả các khía cạnh khác nhau nhất của tác phẩm văn học và sáng tác dân gian.
Ở đây tác giả chủ yếu nhấn mạnh vào đối tượng đặc thù của thi pháp học là hình thức tổ chức tác phẩm văn học. Khi xem thi pháp học là khoa học nghiên cứu văn học như một nghệ thuật đã bao hàm được một phạm vi rất rộng, từ tác phẩm cụ thể, thể loại đến các khái quát phổ quát. Điểm làm cho thi pháp học có vị trí độc lập phân biệt với các bộ môn khác trong khoa văn học là thi pháp chỉ nghiên cứu cấu trúc và thuộc tính nghệ thuật của văn học từ góc độ nghệ thuật. Thi pháp học còn bao gồm sự miêu tả, khám phá hệ thống các phương tiện cấu trúc nghệ thuật cụ thể mang sắc thái dân tộc và cá nhân, như thi pháp văn học Nga, thi pháp văn học Trung Quốc, hoặc trong nước thì có thi pháp văn học trung đại, thi pháp văn học hiện đại, thi pháp thơ Tản Đà, thi pháp thơ Tố Hữu… 1.
Đặc trưng thi pháp văn học trung đại Việt Nam 1. Hệ thống ưóc lệ trong văn học trung đại Trong đời sống xã hội, ước lệ là một qui ước có tính cộng đồng. Ước lệ là một tín hiệu riêng của một cộng đồng khi cảm nhận thực tại, làm cho sự vật và hiện tượng hiện lên đúng với những qui ước và đúng với cách hiểu của cả cộng đồng. Văn học nghệ thuật mọi thời, mọi dân tộc bao giờ cũng có tính ước lệ.
Bởi lẽ, văn học không là phiên bản thu nhỏ của hiện thực đời sống, nhưng bắt nguồn từ mảnh đất thực tại, thanh lọc thực tại qua cái nhìn nghệ thuật của nhà văn, lăng kính thẩm mỹ của thời đại. Có điều, ước lệ trong văn học là ước lệ thẩm mỹ có tính qui ước của các nhà văn trong một thời đại, trong một giai đoạn, một dòng văn học nhất định. Ước lệ trong văn học trung đại Việt Nam được nhà văn sử dụng triệt để, nghiêm túc và phổ biến. Các nhà văn bao giờ cũng cảm thụ và diễn đạt thế giới bằng hệ thống nghệ thuật ước lệ.
Ước lệ đã trở thành một đặc trưng thi pháp của 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đặc trưng thi pháp này hình thành từ bối cảnh lịch sử xã hội phong kiến và cảm quan thẩm mỹ của tầng lớp nghệ sĩ Hán học. Xã hội phong kiến là một xã hội đẳng cấp, lắm nghi thức, công thức. Xã hội bị lễ nghĩa trói buộc, nên văn chương tất phải ước lệ.
Tấng lớp Nho học xem sách xưa, lời nói cuả thánh hiền, người trước là chuẩn mực thì văn chương không thể không đạt đến những mẫu mực về bút pháp, dùng từ, xây dựng hình ảnh, hình tượng, sử dụng điển tích, điển cố,. Với các nhà văn thời này văn chương phải “Văn dĩ tải đạo”, “Thi dĩ ngôn chí”; sáng tác văn học là hình thức trước thư lập ngôn, nên văn chương ước lệ mới đẹp, mới sang trọng. Trong tác phẩm, nhà văn càng sử dụng nhiều nghệ thuật ước lệ chừng nào thì càng uyên áo, càng đẹp; mới thực hiện được chức năng giáo dục đạo lý của nó; mới góp phần hình thành mẫu người phong kiến lý tưởng. Ước lệ trong văn học trung đại Việt Nam bao gồm ba tính chất: Tính uyên bác và cách điệu hóa cao độ.
Tính sùng cổ. Tính phi ngã. * Tính uyên bác và cách điệu hóa cao độ Không phải ngẫu nhiên văn học chính thống thời phong kiến được mệnh danh là văn chương bác học (Văn học dân gian gọi là văn học bình dân). Gọi như thế, văn chương mang trong mình nó tính bác học.
Người sáng tác phải bác học và người tiếp nhận cũng rất bác học. Bởi đây là loại văn chương phòng khách, trà dư tửu hậu. Văn chưong chính thống thời phong kiến mang tính qui phạm từ góc độ sáng tác đến thưởng thức. Giới văn học hẹp, chỉ quanh quẩn trong tầng lớp trí thức Hán học tài hoa, tao nhân mặc khách.
Trường hợp Nguyễn Khuyến và Dương Khuê là một thí dụ tiêu biểu. Độc giả của Nguyễn Khuyến là Dương Khuê, nên khi bạn văn mất, nhà thơ như muốn gác bút: Câu thơ nghĩ đắn đo không viết Viết đưa ai, ai biết mà đưa ? Sáng tác trong môi trường ấy, tất nhiên tính uyên bác có ý nghĩa thẩm mỹ. Người sáng tác cũng như người tiếp nhận đều phải thông thuộc kính sử, điển cố, điển tích; phải có vốn thi liệu, văn liệu phong phú học tập được từ những áng 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com văn bất hủ của người xưa. Văn chương càng uyên bác càng có sức hấp dẫn lớn, có tính nghệ thuật cao.
Trước sau nào thấy bóng người Hoa đào năm ngóai còn cười gió đông (Nguyễn Du) Hay: Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng Dân gìau đủ khắp đòi phương. (Nguyễn Trãi) Văn chương của tao nhân mặc khách, nên có khuynh hướng lý tưởng hóa, “văn chương hóa”, Các nhà văn thời ấy muốn tạo ra một thế giới nghệ thuật riêng khác với thế giới đời thường. Cho nên, thế giới nghệ thuật của các trang văn thời này luôn được các nhà văn cách điệu hóa cao độ. Hình tượng nghệ thuật càng cách điệu hóa càng đẹp.
Quan niệm này đã làm nấy sinh thái độ xem thường văn xuôi. Trong cái nhìn của các nhà văn và độc giả văn học thời phong kiến, văn xuôi gần với đời sống thực tại, ít được cách điệu hóa; thơ mới là thứ ngôn ngữ giàu tính cách điệu. Con người trong văn chương phải đẹp một cách lý tưởng: tóc mây, mày liễu, mặt hoa, tay tiên, gót sen, vóc hạc,. Cử chỉ, đi đứng, ăn nói tựa như đang sống trong thế giới của nghệ thuật sân khấu: Hài văn lần bước dặm xanh Một vùng như thể cây quỳnh cành dao Chàng Vương quen mặt ra chào Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa (Nguyễn Du) Tạo vật thiên nhiên đi vào văn chương cũng phải thật sang quý và đẹp như mai, cúc, tùng, bách, liễu,.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn (Bà huyện Thanh Quan) 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhìn chung, văn chương thời ấy không chú ý tả thực. Tả thực nếu có, chỉ dùng cho những nhân vật phản diện phàm tục như Mã giám sinh, Sở Khanh, Tú bà… Thoắt trông nhờn nhợt màu da Ăn chi cao lớn đẫy đà lám sao ? Thời bấy giờ, người ta quan niệm con người không hòan thiện, hòan mỹ bằng tạo hóa, không tài hoa bằng hóa công. Vì thế, những gì cần lý tưởng hóa đều phải được so sánh với thiên nhiên, thiên nhiên trở thành chuẩn mực cho cái đẹp của con người. Con những tiểu nhân chỉ có thể so sánh với xác của chúng,mới tả thực.
* Tính sùng cổ: Do quan niệm thời gian phi tuyến tính, nên trong văn chương cổ của dân tộc ta, các nhà văn luôn có xu hướng tìm về quá khứ. Họ lấy quá khứ làm chuẩn mực cho cái đẹp, lẽ phải, đạo đức. Với họ thời đại hòang kim không có trong thực tại. Thời đại hòang kim chỉ có vào thời Nghiêu, Thuấn; người anh hùng nghĩa sĩ lý tưởng là Kỷ Tín, Do Vu, Dự Nhượng (Hịch tướng sĩ văn).
Chân lý quá khứ là chân lý có sức sáng tỏa muôn đời. Vì thế, văn chương thường lấy tiền đề là lý lẽ và kinh nghiệm của cổ nhân, của lịch sử xa xưa (lập luận trong Quân trung từ mênh tập của Nguyễn Trãi là một minh chứng). Vì vậy mà văn học trung đại thường đầy rẫy những điển tích, điển cố. Mẫu mực của văn chương cũng như vậy.
Thơ ca không ai có thể vượt qua những thi thánh, thi tiên, thi thần như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị,. Chính vì vậy, các nhà văn đời sau thường “tập cổ” vay mượn văn liệu, thi tứ, hình ảnh nghệ thuật của các nhà thơ, nhà văn đời trước mà không bị đanh giá là “Đạo văn”. Ngược lại, họ được đánh giá là một cây bút đạo đức, sang trọng; tác phẩm của họ rất giàu giá trị. * Tính phi ngã: Thời phong kiến, ý thức cá nhân chưa có điều kiện phát triển.
Con người chưa bao giờ dám “sống là mình”, “sống với mình”. Con người chỉ sống với không gian mà không sống cùng thời gian.