Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những công trình nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới này có rất nhiều nhà nghiên cứu khoa học đã nghiên cứu về việc đổi mới PPDH nói chung và PP TLN nói riêng, đề xuất những giải pháp học theo nhóm để đặt được kết quả cao, sau đây là những nhà nghiên cứu khoa học đã nghiên cứu về PP TLN: A. Jakiel - nhà giáo dục Ba Lan lỗi lạc với cuốn sách “Học tập theo nhóm ở trường học”, tác giả đã trình bày về hình thức học mới trong hoạt động dạy học đó chính là: “Học tập theo nhóm ở trường học". Casinet - Roger, vào năm 1949 đã đề xuất các PP làm việc tự do theo nhóm: “Làm việc theo nhóm có nghĩa là sinh viên phải tìm tòi, phải thực hiện một cuộc khảo cứu hay quan sát, phải cố gắng phân tích, tìm hiểu, diễn đàn, phải thành lập theo phiếu và sắp xếp những phiếu này, phải đóng góp sự tin tưởng của mình cho công việc của nhóm”.
Năm 1909, Robert Vlavin đã viết rằng “học tập hợp tác, có thể thay đổi cách nhìn của giới trẻ và khiến HS dễ chấp nhận kết quả học tập của mình hơn”. Năm 1916, John Dewey trong công trình “Dân chủ và giáo dục”, tác giả khẳng định “lớp học phải phản ánh được xã hội rộng lớn là phải là một phòng thí nghiệm cho ciệc học và cuộc sống thực tế ”. Ở Việt Nam, cũng có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và nghiên cứu về đổi mới PPDH và dạy học theo nhóm môn GDCD ở các trường THPT, nội dung cơ bản như sau: Tác giả Lê Văn Tạc với bài viết "Một số vấn đề về cơ sở lý luận học hợp tác nhóm", Tạp chí Giáo dục, số 81 (3/2004). Các khái niệm về dạy học hợp 4 tác, cơ sở lý luận của dạy học hợp tác cũng như các bước thực hiện dạy học hợp tác đã được tác giả khái quát trong bài viết này.
Tác giả Trần Bá Hoành, trong bài viết "Những đặc trưng của phương pháp tích cực" trên Tạp chí Giáo dục số 32 (6/2002) có nêu : "Từ dạy học thụ động sang dạy học tích cực giảng viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm để họ tự chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình". Tác giả Ngô Thị Thu Dung, năm 2022 cũng đã phân tích khái quát về "Một số vấn đề lý luận và kỹ năng dạy học theo nhóm của học sinh". Tác giả Nguyễn Thị Hồng Nam, năm 2022 cũng nêu ra những đặc điểm, cách thức của việc "Tổ chức hoạt động hợp tác trong học tập theo hình thức thảo luận nhóm". Tác giả Trần Thị Bích Hà, năm 2006, trong công trình nghiên cứu “Một số thay đổi về học hợp tác ở trường phổ thông”, cũng đã chỉ ra được những thay đổi trong tổ chức dạy học nhóm ở các nhà trường.
Tác giả Trần Ngọc Lan với bài viết “Kỹ thuật chia nhóm và điều khiển nhóm học tập hợp tác trong dạy học toán ở tiểu học”, bước đầu đã khái quát về các kĩ thuật chia nhóm cho học sinh. Năm 2010, tác giả Trần Bá Hoành đã xuất bản ấn phẩm “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa”. Năm 2010, tác giả Nguyễn Văn Hồng đã xuất bản ấn phẩm “Dạy học hợp tác - nhóm”. Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả về việc sử dụng PP TLN trong dạy học ở các trường THPT.
Như vậy, trên thế giới đã có nhiều nhà nghiên cứu có những công trình về vấn đề PP TLN để vận dụng vào hoạt động giảng dạy. Những công trình nghiên cứu trong nước Đảng và chính phủ Lào coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, có nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực góp phần quan trọng vào “chiến lược bảo vệ và 5 xây dựng tổ quốc”. Giáo dục là quá trình học tập, giảng dạy nhằm xây dựng con người trưởng thành, “có phẩm chất, có đạo đức, có tri thức, có kỹ năng sáng tạo”. Trong những năm vừa qua, Đảng và chính phủ Lào rất chú trọng đến việc đổi mới PP dạy học và nhấn mạnh cho nhà nghiên cứu phải nghiên cứu về PP dạy học nhiều hơn nữa.
Có thể kể đến các nghiên cứu khoa học về việc “vận dụng PP dạy học và dạy học theo nhóm” ở Lào như: - Tác giá Phasith KEOKHADY (2017) “Vận dụng phương pháp thuyết trình tích cực trong dạy học môn Lý luận chính trị ở trường Cao đẳng Sư Phạm Đông Khăm Xạng, thủ đô Viêng Chăn”, Luận văn thạc sĩ, trường đại học Sư Phạm Đại học Thái Nguyên. Theo tác giả: “Trong quá trình dạy học môn Lý luận chính trị, muốn có bài thuyết trình có sức thuyết phục, GV phải tạo ra tình huống có vấn đề. Tình huống có vấn đề là tình huống nảy sinh mâu thuẫn giữa một bên là chủ thể có nhu cầu giải quyết tình huống đó với một bên là những tri thức kỹ năng và phương pháp hiện có của chủ thể chưa đủ để giải quyết, để tạo ra cho mình có hiểu biết về nó và cách hiểu giải quyết tình huống”. - Tác giả Nang Manyphone MANYVANH (2018-2019) nghiên cứu về kết quả học tập của học sinh khi sử dụng PP TLN “trong dạy học môn GDCD lớp 10 phần Nghĩa vụ và đạo đức” tại trường THPT Sốp Chép, huyện Pak Xeng, tỉnh Luông Pha Bang, Khóa luận đại học, Đại học Sụ Pha Nụ Vông.
- Tác giả Bounthanome SILIMANOTHAM (2020) “Vận dụng tình huống trong dạy học môn chính trị ở trường Cao đẳng Sư phạm Khăng Khai, tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào”, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên. Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu về lý luận, thực trạng đề xuất quy trình vận dụng PP tình huống trong dạy học môn chính trị ở Lào. - Tác giả Nang Kham KEOTHONGKHUN (2020-2021) nghiên cứu về kết quả học tập của học sinh khi sử dụng PP TLN trong dạy học “môn giáo dục công dân lớp 10 bài Tự hoàn thiện bản thân” tại trường THPT Mương Khải, 6 tỉnh Luông Pha Bang. Tác giả Nang Kayson KHAMPHONG (2020-2021) nghiên cứu kết quả của học sinh khi sử dụng PP TLN “trong dạy học môn GDCD lớp 11 bài Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường” tại trường THPT Hôi Hỏi, huyện Năm Bác, tỉnh Luông Pha Bang.
Tác giả Thao Chanhthany và Nang Ketsakhone (2017-2018) nghiên cứu về kết quả sau khi sử dụng PP TLN trong dạy học phần “Tự phát triển hoàn thành bản thân” tại trường THPT Na Nhao, huyện Xay Nhạ Bu Ly, tỉnh Xay Nhạ Bu Ly. Các công trình nghiên cứu này đều là Khóa luận đại học của trường Đại học Sụ Pha Nụ Vông. Trong đó, các tác giả đều ít nhiều bàn đến cách thức tiến hành việc sử PP TLN trong dạy học môn GDCD ở Lào. Trong những năm qua ở Lào cũng có nhiều nghiên cứu về PP và PP DH theo nhóm trong dạy học môn GDCD, chủ yếu là khóa luận của sinh viên đại học.
Điều này cũng cho thấy, việc đổi mới PPDH và PP TLN rất được quan tâm và chú trọng trong quá trình tiến hành đổi mới giáo dục ở Lào. Cơ sở lý luận chung của việc vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn GDCD ở trường THPT 1. Khái niệm - Phương pháp và phương pháp dạy học Phương pháp Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, “Methodos”- là con đường đi tới một cái gì đó; là cách thức đạt tới mục đích. Nhà triết học Phran -xi Bê cơn coi phương pháp như ngọn đèn soi đường cho người lữ hành đi trong đêm tối.
Theo ông: “Phương pháp là con đường, cách thức đi đến chân lý”. Theo từ điển của Lào, PP là “con đường, phương tiện để đạt tới mục đích”. Theo ông Vanhkhone cho rằng “Phương pháp là quá trình để hoàn thành một nhiệm vụ, với tập hợp bao gồm các lý thuyết và các cách thức có tính hệ thống, được sử dụng để tiến hành một hoạt động cụ thể”. Tác giả Tôda Páplốp coi: “Phương pháp khoa học là những quy luật nội tại của sự vận động của tư duy, với tư cách là sự phản ánh chủ quan của thế 7 giới khách quan, hay là những quy luật khách quan được “chuyển” và “dịch” trong ý thức của con người và được sử dụng một cách có ý thức, có hệ thống như là phương tiện để giải thích và cải biến thế giới”.
Từ điển Triết học cho rằng: “Phương pháp theo nghĩa chung nhất là cách thức đạt tới mục tiêu, là hoạt động được sắp xếp theo một trật tự nhất định” [11, tr. Tác giả Phạm Viết Vượng đã chia phương pháp thành các bậc: “Bậc 1: Phương pháp là hệ thống các quan điểm, các cách tiếp cận đối tượng được sử dụng cho một loại công việc. Cách tiếp cận đối tượng khác nhau sẽ đem lại hiệu quả công việc khác nhau. Bậc 2: Phương pháp là hệ quy trình, để tiến hành một loại công việc ta cần lựa chọn một quy trình với các bước đi ngắn nhất để đem lại hiêu quả tốt nhất (quy trình tối ưu).
Bậc 3: Phương pháp là hệ thống các thao tác biện pháp cụ thể được sử dụng để tiến hành công việc. Phương pháp là cách làm với các thao tác cụ thể”. Trên cơ sở đó, tác giả đã định nghĩa: “Phương pháp là tổ hợp các cách thức mà chủ thể sử dụng để tác động vào đối tượng hoạt động nhằm biến đổi đối tượng theo mục đích đã xác định”[31, tr. “Phương pháp còn được hiểu là toàn bộ những cách thức với tính chất là một hệ thống nguyên tắc xuất phát từ những quy luật tồn tại và vận động của đối tượng khách thể đã được nhận thức, để định hướng và điều chỉnh hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của con người, nhằm tác động vào đối tượng khách thể để thực hiện mục đích đã định” [19, tr.
Từ những nhận định trên, theo chúng tôi phương pháp được hiểu “là cách thức, là con đường, là phương tiện để đạt tới mục đích”. Theo đó, phương pháp vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan. Trong dạy học, phương pháp là cách thức để giáo viên chuyển tải, hướng dẫn người học thực hiện các nội dung học tập nhất định.