CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁC NGOẠI LỆ CỦA NGUYÊN TẮC KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ TRONG WTO 1. Nguyên tắc không phân biệt đối xử trong WTO Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) chính thức ra đời kể từ ngày 01/01/1995 là kết quả của Vòng đàm phán Urugoay (1986 – 1995) với tiền thân là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT 1947). Một trong những mục tiêu then chốt của hệ thống luật lệ và quy tắc của WTO là tạo ra một môi trường thương mại không có sự phân biệt đối xử. Có hai nguyên tắc chính nhằm thực hiện mục tiêu này trong luật pháp WTO là: nguyên tắc Tối huệ quốc (‘most favoured nation’ – MFN) và nguyên tắc Đối xử quốc gia (‘national treatment’ – NT).
Hai điều khoản liên quan tới các nguyên tắc không phân biệt đối xử trong thương mại hàng hóa trong GATT 1994 là: Điều I, đề cập tới nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) và Điều III, đề cập tới nguyên tắc Đối xử quốc gia (NT). Hai điều khoản liên quan tới các nguyên tắc không phân biệt đối xử trong thương mại dịch vụ trong GATS là: Điều II, đề cập tới nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) và Điều XVII, đề cập tới nguyên tắc Đối xử quốc gia (NT). Pháp luật WTO cho phép một số ngoại lệ đối với các nguyên tắc cơ bản nói chung và hai nguyên tắc trên nói riêng. Các ngoại lệ này đóng vai trò rất quan trọng trong việc hài hòa giữa việc thúc đẩy tự do hóa thương mại với việc bảo vệ các giá trị và quyền lợi kinh tế cũng như phi kinh tế của một quốc gia.
Chương này trình bày những kiến thức cơ sở về hai nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) và Đối xử quốc gia (NT) trong thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ, cũng như các ngoại lệ chung của chúng. Nguyên tắc Tối huệ quốc trong GATT 1994 và GATS 1. Nguyên tắc Tối huệ quốc trong GATT 1994 Điều I của Hiệp định GATT 1994 với tiêu đề ‘Quy định chung về Đối xử Tối huệ quốc’ có ghi: Với mọi khoản thuế quan và khoản thu thuộc bất cứ loại nào nhằm vào hay có liên hệ tới nhập khẩu và xuất khẩu hoặc đánh vào các khoản chuyển khoản để thanh toán hàng xuất nhập khẩu, hay phương thức đánh thuế hoặc áp dụng phụ thu nêu trên, hay với mọi luật lệ hay thủ tục trong xuất nhập khẩu và liên quan tới mọi nội dung đã được nêu tại khoản 2 và khoản 4 của Điều III, mọi lợi thế, biệt đãi, đặc quyền hay quyền miễn trừ được bất kỳ bên ký kết nào dành cho bất cứ một sản phẩm có xuất xứ từ hay được giao tới bất kỳ một nước nào khác sẽ được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 áp dụng cho sản phẩm tương tự có xuất xứ từ hay giao tới mọi bên ký kết khác ngay lập tức và một cách không điều kiện. Ngoài ra, Hiệp định GATT 1994 bao gồm một số điều khoản đòi hỏi đối xử MFN hoặc tương tự: • Điều III:7 nói về các quy tắc định lượng nội địa; • Điều V: ‘Quyền tự do quá cảnh’; • Điều VIII:1 nói về phí và các thủ tục liên quan đến xuất nhập khẩu; • Điều IX:1 nói về các yêu cầu về đánh nhãn xuất xứ; • Điều XIII nói về việc áp dụng các hạn chế số lượng một cách không phân biệt đối xử; • Điều XVII nói về doanh nghiệp thương mại Nhà nước.
Tất cả các điều khoản này đã tạo nên một hệ thống xuyên suốt về nguyên tắc Tối huệ quốc nhằm hạn chế sự phân biệt đối xử trong thương mại. Điều I:1 của GATT 1994 nghiêm cấm sự phân biệt đối xử giữa các sản phẩm tương tự có xuất xứ hoặc được nhập khẩu từ các quốc gia khác nhau. Mục đích chính của nguyên tắc đối xử MFN là nhằm đảm bảo trao cơ hội bình đẳng cho việc nhập khẩu từ, hoặc xuất khẩu đến, tất cả các thành viên WTO. Trong vụ tranh chấp Cộng đồng Châu Âu – Các biện pháp ảnh hưởng đến nhập khẩu chuối III, biện pháp được xem xét là quy định về việc nhập khẩu chuối từ EC mà theo đó, chuối từ các nước Mỹ Latin bị đối xử kém ưu đãi hơn chuối từ các nước thuộc địa Châu Âu cũ nói chung.
Cơ quan Phúc thẩm đã kết luận: Bản chất của nghĩa vụ không phân biệt đối xử là các sản phẩm tương tự được đối xử một cách công bằng, dù cho chúng có xuất xứ từ đâu chăng nữa. Vì không bên liên quan nào tranh cãi về việc tất cả chuối đều là sản phẩm tương tự, nên điều khoản không phân biệt đối xử này được áp dụng cho toàn bộ việc nhập khẩu chuối. Điều I:1 của GATT 1994 ngăn cấm cả sự phân biệt đối xử dựa vào luật và sự phân biệt đối xử trong thực tế. Nói cách khác, điều I:1 không chỉ áp dụng với các biện pháp phân biệt dựa vào nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm (phân biệt đối xử hiển nhiên), mà còn áp dụng với các biện pháp có hình thức bề ngoài công bằng nhưng thực tế lại tạo ra sự phân biệt đối xử (phân biệt đối xử trá hình).
Trong vụ Cộng đồng Kinh tế Châu Âu – Các biện pháp ảnh hưởng đến nhập khẩu thịt bò, các quy định của Cộng đồng Kinh tế Châu Âu đã gây ra sự ngưng trệ trong việc miễn thuế dựa trên xuất trình chứng thư xác thực. Ban Hội thẩm đã kết luận rằng các quy định LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 này không tuân thủ nghĩa vụ đối xử MFN theo điều I:1 sau khi biết rằng cơ quan xác thực duy nhất có thẩm quyền phát hành chứng thư này là một cơ quan ở Mỹ. Nguyên tắc Tối huệ quốc trong GATS Nghĩa vụ đối xử MFN là một trong những nghĩa vụ cơ bản của GATS. Điều II:1 của GATS không cho phép sự phân biệt đối xử giữa các dịch vụ và giữa các nhà cung cấp dịch vụ tương tự từ các nước khác nhau.
Theo đó: Đối với bất kỳ biện pháp nào thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này, mỗi Thành viên phải ngay lập tức và không điều kiện dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ Thành viên nào khác, sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà Thành viên đó dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ nước nào khác. Điều II:1 được bổ sung bởi một số các điều khoản khác đề cập tới nghĩa vụ đối xử MFN hoặc tương tự MFN trong GATS: Điều VII nói về sự công nhận; Điều VIII nói về độc quyền và các nhà cung cấp dịch vụ độc quyền; Điều X nói về các biện pháp tự vệ khẩn cấp; Điều XII nói về các biện pháp để bảo vệ cán cân thanh toán; Điều XVI nói về tiếp cận thị trường; Điều XXI nói về sửa đổi các danh mục. Tương tự như nghĩa vụ đối xử MFN trong GATT 1994 với sản phẩm hàng hóa, mục đích chủ yếu của nguyên tắc đối xử MFN trong điều II:1 của GATS là nhằm đảm bảo tất cả các dịch vụ cũng như nhà cung cấp dịch vụ tương tự đến từ mọi thành viên WTO đều được hưởng cơ hội thương mại bình đẳng như nhau. Cũng trong vụ Cộng đồng Châu Âu – Các biện pháp ảnh hưởng đến nhập khẩu chuối III, Cơ quan Phúc thẩm cho rằng nghĩa vụ đối xử MFN theo điều II:1 của GATS phải được tuân thủ trên cả phương diện pháp luật cũng như khi áp dụng trong thực tế.
Cơ quan Phúc thẩm bác bỏ lập luận của EC1 cho rằng, nếu những người thương thuyết Hiệp định GATS có dụng ý điều II:1 điều chỉnh cả các trường hợp phân biệt đối xử trá hình thì họ đã phải ghi rõ ràng trong luật. Cơ quan Phúc thẩm kết luận: Nghĩa vụ được nêu trong điều II là chưa đầy đủ. Ý nghĩa nguyên bản của điều khoản này không loại trừ sự phân biệt đối xử trá hình. Hơn nữa, nếu điều 1 Trước khi Hiệp ước Lisbon có hiệu lực ngày 01/12/2009, Cộng đồng Châu Âu trong các vụ tranh chấp thuộc phạm vi WTO được gọi là EC, sau thời điểm này được gọi là EU.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 II không áp dụng cho trường hợp phân biệt đối xử trá hình, không khó để đặt ra các biện pháp phân biệt đối xử đi ngược lại mục đích cơ bản của điều khoản này, đặc biệt khi trong lĩnh vực thương mại dịch vụ điều đó còn dễ dàng hơn trong thương mại hàng hóa. So sánh nguyên tắc Tối huệ quốc trong GATT 1994 và GATS Nguyên tắc đối xử MFN trong GATT 1994 và GATS có điểm giống nhau là đều nhằm mục đích buộc mọi thành viên của WTO dành cho các thành viên khác và đồng thời được hưởng từ các thành viên đó đãi ngộ ưu đãi nhất mà mỗi thành viên dành cho bất kỳ quốc gia nào, bất kể quốc gia đó có là thành viên WTO hay không. Tuy nhiên, khác với nghĩa vụ đối xử MFN trong GATT 1994 được áp dụng ngay lập tức và vô điều kiện kể từ khi các thành viên gia nhập, GATS cho phép các thành viên cam kết lịch trình miễn trừ đối với nghĩa vụ đối xử MFN theo điều II:1. Điều II:2 của GATS có ghi: Các Thành viên có thể duy trì biện pháp không phù hợp với quy định tại khoản 1 của Điều này, với điều kiện là biện pháp đó phải được liệt kê và đáp ứng các điều kiện của Phụ lục về các miễn trừ đối với Điều II.
Các thành viên có thể liệt kê các biện pháp trong phần Phụ lục về Các miễn trừ của điều II trước ngày Hiệp định WTO có hiệu lực ngày 01/01/1995. Khoảng hai phần ba số thành viên WTO đã liệt kê các miễn trừ MFN và đã có tổng cộng hơn 400 miễn trừ được thông qua, chủ yếu trong lĩnh vực vận tải (đặc biệt vận tải biển), liên lạc (chủ yếu về nghe nhìn), tài chính và các dịch vụ kinh doanh. Thông báo miễn trừ của một thành viên phải bao gồm các thông tin sau: (1) Mô tả về ngành hoặc các ngành hưởng miễn trừ; (2) Mô tả biện pháp, lý giải tại sao nó phù hợp với Điều II; (3) Nước/nhóm nước mà biện pháp đó được áp dụng; (4) Thời gian dự kiến áp dụng miễn trừ; (5) Các điều kiện quyết định tính cần thiết của miễn trừ. Nhiều người có thể hiểu rằng các miễn trừ này là các biện pháp trong một số ngành dịch vụ của một thành viên WTO mà khi áp dụng, thành viên đó sẽ được miễn thực hiện nghĩa vụ đối xử MFN với các nước hay nhóm nước được liệt kê.