Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn Chương 2: Trường nghĩa và việc phân tích truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao Chương 3: Tổ chức hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài học và Thực nghiệm sư phạm. CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Trường nghĩa 1. Khái niệm 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trường từ vựng ngữ nghĩa được tạo nên bởi mối quan hệ đồng nhất về nghĩa giữa các từ ngữ trong hệ thống.
Vì vai trò liên kết quan trọng như vậy nên mối quan hệ đồng nhất trong ngôn ngữ luôn là vấn đề được các nhà ngôn ngữ học Việt Nam quan tâm. Một trong những tác giả có công giới thiệu khái niệm “trường nghĩa” đối với ngôn ngữ học Việt Nam là Đỗ Hữu Châu. Theo ông, “Những quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đặt được các từ vào những hệ thống con thích hợp. Nói cách khác, tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua những tiểu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng.
(2, tr 156) Từ đó Đỗ Hữu Châu đưa ra định nghĩa về trường từ vựng – ngữ nghĩa như sau: “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa. Đó là những từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa”. (2, tr 157”) Mối quan tâm về trường từ vựng – ngữ nghĩa như biểu hiện của tính hệ thống trong từ vựng đã được nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu sau này tiếp tục nghiên cứu. Song, việc nghiên cứu trường từ vựng – ngữ nghĩa đã không còn bị bó hẹp trong nội bộ hệ thống từ vựng mà đã được mở rộng ra cả lĩnh vực hoạt động của ngôn ngữ với những biểu hiện đa dạng.
Điều này cho thấy các quan hệ ngữ nghĩa giữa các đơn vị từ vựng đã được quan tâm từ nhiều góc độ khác nhau, cả từ bình diện hệ thống đến bình diện hoạt động của ngôn ngữ. Phân loại trường nghĩa Chúng ta biết rằng từ vựng của bất cứ ngôn ngữ nào cũng là một hệ thống. Tính hệ thống của chúng được biểu hiện qua các mối quan hệ cơ bản giữa các đơn vị đồng loại của ngôn ngữ đó. Các mối quan hệ này đã được F.Saussure đã chỉ ra trong cuốn “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương”.
Cụ thể, mối quan hệ cơ bản đó là – quan hệ ngang (hay quan hệ tuyến tính, quan hình tuyến hay quan hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc ( hay quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình). Theo hai mối quan hệ này trường từ vựng ngữ nghĩa cũng được phân loại thành các 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trường từ vựng ngữ nghĩa theo quan hệ ngang( trường tuyến tính) và trường từ vựng ngữ nghĩa theo quan hệ dọc ( trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm). Ngoài ra trong ngôn ngữ còn tồn tại một loại trường nghĩa khác nữa đó là trường nghĩa liên tưởng. Sau đây là một số đặc trưng riêng của các loại trường nghĩa này.
Trường nghĩa ngang(trường tuyến tính) Trong cuốn “từ vựng ngữ nghĩa” và trong cuốn “ cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng” của Đỗ Hữu Châu có nhắc tới trường nghĩa ngang và cho rằng: “Các từ trong một trường tuyến tính là những từ thường xuất hiện với từ trung tâm trong các loại ngôn bản”. Điều này có nghĩa trong một ngôn bản khi xuất hiện một từ trung tâm thì liền sau nó sẽ xuất hiện các các từ có quan hệ gắn kết với từ trung tâm đó. Ví như trong ngôn bản mùa thu câu cá của Nguyễn Khuyến khi ta lấy từ “Câu cá” làm từ trung tâm ta sẽ thiết lập được trường tuyến tính của từ “Câu cá” là: thuyền câu, cần, nước, sóng, buông, cá, đớp … Từ ví dụ, khái niệm trên cho thấy việc xác lập một trường nghĩa tuyến tính phụ thuộc vào việc chúng ta lựa chọn từ trung tâm như thế nào. Theo chúng tôi “Để xác lập nên các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả các từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ.
Ví dụ như ta chọn từ Cây là từ gốc ta có thể thiết lập được trường nghĩa tuyến tính của từ Cây là : cao, thấp, thẳng, leo, tươi, héo, to, nhỏ, trồng, nhổ, tưới, bón… Khi chúng ta tiến hành phân tích ý nghĩa của các từ trong trường tuyến tính ta sẽ “phát hiện được những nội dung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp và tính chất của các quan hệ đó”. Trường nghĩa dọc 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đối lập với trường nghĩa ngang là trường nghĩa dọc. Trong trường nghĩa dọc ta lại chia ra thành hai loại trường nghĩa là trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm. Trường nghĩa biểu vật Nói về trường nghĩa biểu vật Đỗ Hữu Châu trong cuốn từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt cho rằng “trường nghĩa biểu vật là tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật”[2, tr.
Đây là một khái niệm tương đối chính xác, dễ hiểu về trường nghĩa biểu vật. Thực sự chúng tôi cũng cho rằng “Trường nghĩa biểu vật là tập hợp các từ ngữ đồng nhất với nhau về nghĩa biểu vật (về phạm vi biểu vật)” [12, tr. Nghĩa là các từ trong hệ thống trường nghĩa biểu vật sẽ phải có chung chiếu vật. Ví dụ như các từ : nhắm, mở, đen, xanh, nâu, đỏ, nhìn, liếc, lườm, bồ câu, một mí, hai mí,.
chúng được liên kết với nhau bởi chúng cùng chung nghĩa biểu vật là “Mắt”. Vậy nên để xác lập trường nghĩa biểu vật không cách nào khác là “người ta chọn một danh từ biểu thị sự vật làm gốc, rồi trên cơ sở đó thu thập các từ ngữ có cùng phạm vi biểu vật với danh từ được chọn làm gốc đó. Ví dụ như ta lấy từ CHÓ làm gốc ta sẽ thu được các từ đồng nhất về phạm vi biểu vật với CHÓ như: các loài chó: chó đen, chó vàng, chó xù, chó ngao, chó vện.; đặc tính của chó: khôn, ngu, dại, điên,… hoạt động của chó: sủa, cắn, ngoạm, săn,…; hình dáng kích thước của chó: to, nhỏ, béo, lùn… Chú ý : -Tùy theo mục đích của việc huy động vốn từ mà ta có thể lựa chọn số lượng các tiêu chí để xác lập trường nghĩa. -Các trường nghĩa khác nhau có thể có một số lượng từ ngữ nhất định chung nhau.
Như vậy, theo quan hệ với trường nghĩa, có thể phân chia từ vựng thành các từ đơn trường nghĩa và các từ đa trường nghĩa…[12, tr192-193]. Trường nghĩa biểu niệm 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nếu trường nghĩa biểu vật là tập hợp các từ ngữ đồng nhất với nhau về nghĩa biểu vật thì cũng theo Đỗ Hữu Châu trường nghĩa biểu niệm “trường nghĩa biểu niệm là tập hợp các từ ngữ có chung một cấu trúc nghĩa biểu niệm. Nghĩa là các từ được gọi là chung trường nghĩa biểu niệm khi nó có chung nét nghĩa hoạt động, tính chất nào đó. Ví dụ : ta chọn cấu trúc biểu niệm ( hoạt động ) (A tác động vào B)( B thay đổi màu sắc) làm gốc , ta có thể thu được nhóm từ ngữ có chung cấu trúc biểu niệm như: trang điểm, sơn, vẽ, tô, thoa, bôi, tẩy, xóa,… Tóm lại, ta dễ dàng có thể xác lập trường nghĩa biểu niệm bằng cách “chọn một cấu trúc biểu niệm làm gốc rồi trên cơ sở đó thu thập các từ có chung cấu trúc biểu niệm gốc đó.” Chú ý: -Tùy mục đích xác lập trường nghĩa biểu niệm, người ta có thể bổ sung nét nghĩa -Số lượng nét nghĩa trong cấu trúc biểu niệm được chọn làm gốc quyết định số lượng từ ngữ thu thập được.
Cấu trúc nghĩa biểu niệm được chọn làm gốc chứa càng ít nét nghĩa thì số lượng từ ngữ thu thập được càng nhiều. Ngược lại, số lượng nét nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu niệm gốc càng nhiều thì số lượng từ ngữ thu thập được càng ít. -Các từ cùng một trường nghĩa biểu niệm có thể khác nhau về trường nghĩa biểu vật. Các trường nghĩa liên tưởng Các sự vật, hoạt động, tính chất… được phản ánh trong nhận thức của con người theo những mối quan hệ nhất định.
Các sự vật, hiện tượng… có quan hệ liên tưởng với nhau là các sự vật, hiện tượng mà từ một sự vật, hiện tượng… này người ta nghĩ đến các sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất… khác. Trường nghĩa liên tưởng là trường nghĩa tập hợp các từ biểu thị các sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất… có quan hệ liên tưởng với nhau. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khác với hai trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa liên tưởng có sự khác biệt nhất định giữa các cá nhân sử dụng ngôn ngữ. Do đó, người ta có thể xây dựng các từ điển trường nghĩa đối với các trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm nhưng khó có thể có từ điển các trường nghĩa liên tưởng, vì trường nghĩa liên tưởng có tính chủ quan cao, nó phụ thuộc vào điều kiện, môi trường sống, thời đại sống, kinh nghiệm sống… của mỗi cá nhân.
Có những liên tưởng có ở người này nhưng không tồn tại hoặc xa lạ đối với người khác và ngược lại. Tuy nhiên, mỗi thời đại, mỗi ngành nghề, mỗi địa phương lại có thể có một điểm liên tưởng chung nhau. Ví dụ, cùng sự việc “ăn sáng” (điểm tâm), những người sống ở thành thị thường liên tưởng đến một số món nhất định khác với những người sống ở nông thôn, những người ở thời đại này liên tưởng khác với những người ở thời đại khác. Do đó, nắm được những điểm chung trong liên tưởng cho mỗi thời đại, mỗi nhóm xã hội… là điều kiện cần thiết để lý giải những hiện tượng “ý tại ngôn ngoại”, “mượn mây để tả trăng” hay các biểu tượng, biểu trưng văn học.
Các hiện tượng chuyển trường nghĩa của từ ngữ Thực tế từ ngữ khi đi vào hoạt động chúng luôn phát sinh thêm nghĩa. Vì thế một từ sẽ có nhiều nghĩa ( đa nghĩa) và một từ sẽ cùng ở trong nhiều trường khác nhau. Hiện tượng này gọi là hiện tượng chuyển di trường nghĩa của từ. Tác dụng của hiện tượng chuyển trường này là tạo ra cách cách diễm đạt mới, độc đáo sáng tạo và làm cho ngôn ngữ thêm giàu đẹp.
Tuy nhiên để hiểu được các nghĩa phát sinh và xếp từ đúng trong trường của nó đòi hỏi chúng ta phải nắm được nghĩa gốc( nghĩa hạt nhân) của từ.