Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số nghiên cứu về dạy học dự án 1. Nghiên cứu ngoài nước Trên thế giới, khái niệm dạy học dự án (DHDA) đã được sử dụng từ khá sớm, nó được tiếp cận như một phương pháp dạy học (PPDH). Khái niệm project (dự án) đã được sử dụng nhiều trong đời sống xã hội và cũng được các nhà khoa học đưa ra nhiều qua điểm khác nhau khi tiếp cận nội hàm của thuật ngữ này.
Khởi nguồn, project được sử dụng trong các trường dạy kiến trúc – xây dựng ở Ý từ cuối thế kỉ XVI. Từ đó, tư tưởng DHDA lan sang Pháp cũng như một số nước châu Âu khác và Mĩ và từ đó khái niệm project được sử dụng nhiều trong các trường đại học và chuyên nghiệp. Dạy học dự án lần đầu tiên được sử dụng trong các trường Kiến trúc, Xây dựng ở Italia từ cuối thế kỉ thứ XVI. Trong những năm này, những kiến trúc sư đã thành lập một Học viện nghệ thuật The AccademiadiSanLuca–Rome dưới sự bảo trợ của Giáo hoàng Gregory XIII năm 1577 để chuyên nghiệp xu hướng nghề nghiệp của họ.
Vào năm 1656, cuộc thi đầu tiên của Học viện được tổ chức. Cấu trúc của các cuộc thi vào Học viện tương đương với kì thi kiến trúc. Việc thiết kế trong các cuộc thi vào Học viện chỉ là những tình huống giả định. Vì lí do này, chúng được gọi là “dự án”–“những dự án với ý định là những bài tập trong tưởng tượng chứ chúng không được dùng để xây dựng” (dẫn theo [45]).
Vào năm 1671 ở Pháp, Viện hàn lâm kiến trúc Hoàng gia cũng được thành lập, nhiệm vụ của cuộc thi ở đây trở nên phổ biến. Ngoài những cuộc thi “PrixdEmulation” diễn ra hàng tháng, việc đào tạo đã tập trung vào học tập bằng các dự án. Sinh viên phải hoàn thành một vài dự án cấp tháng để được trao tặng huân chương hoặc được công nhận kết quả. Sự công nhận này hết sức cần thiết để học tiếp thạc sĩ và được trao tặng danh hiệu kiến trúc sư hàn lâm.
Với Prixd Emulation năm 1763, sự phát triển ý tưởng dự án thành phương pháp học tập và GD hàn lâm được hoàn thiện (dẫn theo [45]). Học tập theo dự án không chỉ ở các nước châu Âu mà còn lan truyền sang cả châu Mĩ và đồng thời chuyển cả từ ngành kiến trúc đến ngành cơ khí có ảnh hưởng quan trọng đến việc sử dụng và trang bị cơ sở lí luận cho các PPDH theo dự án. Vào cuối thế kỉ 16, dự án lần đầu tiên được sử dụng trong các trường kiến 6 trúc ở Ý theo nghiên cứu của Apel và Knoll (dẫn theo [45]). Sau đó, đến cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, các nhà sư phạm tại Mỹ đã xây dựng cơ sở lý thuyết cho dạy học dự án và vận dụng dạy học dự án sử dụng trong các trường phổ thông, coi đây là PPDH quan trọng trong quan điểm lấy người học làm trung tâm.
PPDH này đã được lựa chọn để vận dụng một cách linh hoạt vào các môn học cụ thể để tăng cường cơ hội học tập bằng trải nghiệm, hợp tác và năng lực vận dụng tích hợp kiến thức môn học vào giải quyết các vấn đề thực tế trong cuộc sống hàng ngày của người học. Tiếp nối sự phát triển này, thuật ngữ DHDA được quan tâm nghiên cứu nhiều từ đầu thế kỷ XX, trên cơ sở các học thuyết tâm lý giáo dục của J.Vugotxki, các nhà sư phạm Mỹ (Woodward; Richard.Kilpatrich) đã xây dựng lý luận cho DHDA. Trên quan điểm của các nhà khoa học này thì “DHDA đã được áp dụng cho HS ở mọi lứa tuổi với hầu hết các môn học và trong những môi trường học tập đa dạng. Các tác giả này cho rằng mọi dự án phải có xu hướng trở thành dự án của cuộc sống và đều phải mang đến chuyển biến cho cuộc sống của học sinh” [42].
Bên cạnh đó, John Dewey đã rút ra nhận định chắc chắn rằng: “Tất cả HS, để học tập phải tích cực và làm ra một cái gì đó; Tất cả học sinh phải học cách suy nghĩ và giải quyết vấn đề; Tất cả học sinh phải học cách hợp tác với người khác để chuẩn bị cho cuộc sống ngoài xã hội’ [43]. Đến năm 1918, nhà tâm lý học William và các nhà nghiên cứu của trường đại học ở Columbia đã có những đóng góp lớn để truyền bá dự án học tập qua các giờ học, hội nghị và các tác phẩm. Từ đầu thế kỷ XX, ở bắc Mỹ cũng như ở Châu Âu, dự án học tập đã tạo nên một chuyển động quan trọng cho xã hội – giáo dục thay đổi mạnh mẽ trong dạy học nhà trường. Nền tảng của chuyển động này là “đem đến cho HS sự hào hứng tiếp nhận kiến thức, sự thay đổi phương pháp học tập với sự tham gia một cách có ý thức, tích cực nhất của học sinh vào việc tiếp nhận tri thức” (dẫn theo [45]).
Đến cuối những năm 1990, việc áp dụng phương pháp DHDA đã được phát triển một cách mạnh mẽ tại học viện giáo dục Buck (BIE). Theo BIE: “DHDA là phương pháp dạy học có hướng dẫn đòi hỏi học viên thực hiện những nhiệm vụ phức hợp dựa trên các câu hỏi hay vấn đề mang tính thử thách đòi hỏi học viên phải sử dụng nhiều kĩ năng như kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng đưa ra quyết định, kĩ năng làm việc nhóm… dưới sự hỗ trợ của giáo viên chứ không phải dưới sự định hướng của giáo viên”. Đến năm 1996, trong bản báo cáo của Ủy ban Quốc tế về Giáo Dục trong Thế kỉ 21 gửi tới UNESCO đã xác định 4 trụ cột của giáo dục đó là học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để tồn tại. Đây có thể coi là mục tiêu căn bản của giáo 7 dục nhằm đáp ứng với yêu cầu căn bản mà thực tiễn đặt ra trong bối cảnh xã hội có nhiều sự chuyển biến trên mọi phương diện.
Trong một nghiên cứu được đăng trên tạp chí Nhật báo giáo dục, 1999 của tác giả Boaler, “Toán học cho thời điểm hiện tại hay cho thiên nhiên kỉ ?”, ông đã chỉ ra rằng: học sinh (HS) có kết quả học tập tốt hơn khi được học trong các lớp DHDA so với việc học ở các lớp khác. Sự vượt trội hơn của HS trong lớp DHDA ở hai điểm đó là việc nhận thức các kiến thức, các khái niệm mới và việc giải quyết các vấn đề mà GV đặt ra: “HS trong các lớp truyền thống phát triển kiến thức thụ động mà họ cho rằng không có lợi ích gì trong thực tế”. Trong khi đó, học sinh được dạy theo kiểu dạy học dự án cởi mở hơn, tiến bộ hơn thì phát triển vốn kiến thức linh hoạt và có ích hơn để đáp ứng vào nhiều hoàn cảnh khác nhau” [5]. Bên cạnh đó, dưới góc độ nhìn nhận của tổ chức về vấn đề này thì dạy học theo dự án cũng đã được tiếp nhận như một phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển con người hoàn thiện, đáp ứng với đòi hỏi của sự phát triển.
Vào năm 2004, Tập đoàn Intel đã mang đến chương trình ITP (Intel Teach Program), với mục tiêu là tích hợp ICT (Informatics and Communication Techology) để đổi mới PPDH. Và phương pháp DHTDA là một trong những phương pháp Intel sử dụng. Theo quan điểm của Intel, DHTDA là một hình thức dạy học lấy người học làm trung tâm. Giúp người học phát triển kiến thức và kĩ năng thông qua việc chủ động tìm tòi, khám phá và hiện thực hóa kiến thức vào thực tiễn nhằm tạo ra sản phẩm từ bàn tay, khối óc của mình.
DHTDA được xây dựng là dựa trên hệ thống câu hỏi có định hướng, lồng ghép các kiến thức về lý luận để giải quyết các vấn đề mang tính thực tiễn. Bên cạnh đó tập đoàn Microsoft cũng đã nêu lên những điểm tích cực của DHTDA, cụ thể là: “Cách học dựa trên dự án là một mô hình học tập khác với các hoạt động học tập truyền thống với những bài giảng ngắn, tách biệt và lấy GV làm trung tâm. Theo đó, các hoạt động học tập được thiết kế một cách cẩn thận, mang tính lâu dài liên quan đến nhiều lĩnh vực học thuật, lấy HS làm trung tâm và hòa nhập với vấn đề và thực tiễn của thế giới thực tại ”. Như vậy, hình thức DHDA đã được các nước có nền GD phát triển áp dụng từ khá sớm và hiện nay nó được sử dụng khá phổ biến trong chương trình GD của các nước này.
GD có vai trò quan trọng trong việc phát triển của đất nước, chính vì vậy việc đổi mới PPDH trên thế giới đã được chú trọng, DHTDA giúp hình thành cho HS sự tích cực, chủ động, sáng tạo, giúp HS dễ hòa nhập vào thực tiễn cuộc sống. Nghiên cứu trong nước Trong lịch sử phát triển giáo dục ở Việt Nam thì các vấn đề phát triển năng lực học tập, phương pháp dạy học theo dự án đã được chú ý từ rất lâu 8 Từ năm 2003, chương trình “Dạy học cho tương lai” Tập đoàn Intel và Hiệp hội Công nghệ trong Giáo dục Quốc tế “phương pháp dạy học theo dự án tại 20 trường thuộc 9 tỉnh trong cả nước. Chương trình này hướng dẫn giáo viên cách triển khai các dự án học tập”. Chương trình giúp GV phổ thông biết cách khai thác và sử dụng máy tính điện tử để góp phần hình thành và phát triển trí tưởng tượng của HS và cuối cùng là đưa các em tới một PPDH, hình thức dạy học hiệu quả hơn dựa trên nền tảng của DHTDA [28].
Cuối năm 2013, trong đề án “Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo” của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ “cần xây dựng chương trình Giáo dục phổ thông theo hướng tiếp cận năng lực, tức là tập trung vào các năng lực cần có của người học. Chương trình tiếp cận này chủ trương giúp học sinh không chỉ biết học thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết làm thông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng những tri thức học được để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra. Để đạt được mục tiêu này, giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, trong đó có DHTDA” [3].