phần mở đầu, 3 chƣơng, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực trạng dạy học theo dự án. Chƣơng 2: Thực trạng của dạy học mô đun tiện lỗ theo dự án trong môi trƣờng trực tuyến cho sinh viên trƣờng CĐN Việt Nam- Hàn Quốc. Chƣơng 3: Thiết kế và thực nghiệm dạy học mô đun tiện lỗ theo dạy học dự án trong môi trƣờng trực tuyến Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 3 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LU ẬN VÀ TH ỰC TRẠNG D ẠY HỌC THEO DỰ ÁN 1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề về dạy học theo dự án trong môi trƣờng trực tuyến.1 Sự phát triển của dạy học theo dự án trên thế giới Khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn đƣợc sử dụng nhƣ một phƣơng pháp hay hình thức dạy học [13]. Có nhiều giải thích khác nhau về nguồn gốc của DHTDA, theo Apel và Knoll, khái niệm project trong dạy học đã đƣợc bƣớc đầu sử dụng từ thế kỉ 16 ở các trƣờng dạy nghề kiến trúc tại Ý sau đó lan rộng sang các nƣớc châu Âu khác và Mỹ từ thế kỉ 18. Cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, DHTDA đã đƣợc sử dụng trong dạy học phổ thông tại Mỹ. Ngƣời đóng vai trò quan trọng đối với việc hình thành cơ sở lý thuyết cho PP DHTDA là các nhà sƣ phạm Mỹ đầu thế kỉ 20, đặc biệt là J.Dewey và Charles Peirce.
Họ đã đƣa ra những cơ sở cho DHTDA và khẳng định rằng, tất cả mọi ngƣời dù già hay trẻ đều học bằng hoạt động thông qua mối quan hệ với môi trƣờng thực tế. Tuy nhiên, thời điểm đó, DHTDA vẫn còn nhiều hạn chế do ảnh hƣởng của các yếu tố chính trị quốc tế. Từ sau chiến tranh thế giới thứ 2, cùng với trào lƣu cải cách giáo dục ở phƣơng Tây, DHTDA đƣợc quan tâm nghiên cứu và sử dụng rộng rãi, phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Nhiều quan điểm về phƣơng pháp dự án của các nhà sƣ phạm Mỹ đầu thế kỉ 20 đƣợc sử dụng và tiếp tục phát triển.
Ngày nay, DHTDA đƣợc sử dụng với nhiều tên gọi khác nhau, với những quan niệm chƣa thống nhất. Tùy theo các tác giả khác nhau, DHTDA đƣợc coi là một phƣơng pháp dạy học (PPDH), hình thức dạy học (HTDH) hay mô hình, quan điểm dạy học (QĐDH). DHTDA đƣợc ứng dụng trong mọi cấp, từ giáo dục phổ thông, đào tạo nghề cũng nhƣ trong đào tạo đại học, trong hầu hết các môn học hay ngành học thậm chí cả giáo dục mầm non.2 Sự phát triển của dạy học theo dự án ở Việt Nam Ở Việt Nam, từ lâu đã sử dụng đồ án môn học, đồ án tốt nghiệp trong đào tạo tại các trƣờng đại học chủ yếu là các trƣờng đại học khối kỹ thuật. Hiện nay, bài tập lớn, tiểu luận, khóa luận thực hiện khá nhiều trong các trƣờng đại học, cao đẳng.
Các hình thức này có nhiều đặc điểm khá gần gũi với DHTDA. Và, phƣơng pháp DHTDA cũng đã đƣợc áp dụng tại một số trƣờng, trong một số môn học tuy nhiên số lƣợng còn hạn chế. Trong những năm 2000, chƣơng trình đổi mới đào tạo 4 cùng với sự hợp tác quốc tế, DHTDA cũng đƣợc tăng cƣờng giới thiệu và vận dụng. Phải kể đến các chƣơng trình hợp tác quốc tế nhƣ: Chƣơng trình tập huấn cho giáo viên tiểu học và trung học cơ sở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam (4/2005 – 10/2009) của dự án giáo dục Việt – Bỉ; Chƣơng trình bồi dƣỡng giáo viên về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại một số trƣờng phổ thông và trƣờng Cao đẳng sƣ phạm TP Hồ Chí Minh (năm học 2006 – 2007); Chƣơng trình ITGS (Intel Teach Getting Started Course) dành cho cán bộ quản lý và các giáo viên cốt cán tại Huế (12/2011) của Intel tại Việt Nam [9]… Tại Việt Nam, những công trình nghiên cứu về DHTDA mới đƣợc bắt đầu từ những năm 1990.
Năm 1997, tác giả Nguyễn Văn Cƣờng thực hiện bài viết mang tính chuyên khảo, sử dụng thuật ngữ DHTDA, trong đó trình bày những vấn đề cơ bản về DHTDA [4],[13]. Năm 2004, các tác giả Nguyễn Văn Cƣờng và Nguyễn Thị Diệu Thảo đã thực hiện bài viết trình bày về việc vận dụng dạy học dự án vào đào tạo giáo viên nhằm tăng cƣờng tính tự lực sáng tạo của sinh viên, giúp giáo viên tƣơng lai làm quen và sử dụng phƣơng pháp dự án trong dạ y học phổ thông cũng nhƣ tham gia các dự án phát triển nhà trƣờng [6]. Năm 2006, tác giả Trần Thị Thanh Thủy đã thực hiện bài viết trình bày về việc sử dụng phƣơng pháp dạy học dự án có ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Địa lý ở trƣờng phổ thông, thông qua hoạt động học tập, học sinh có khả năng tƣ duy, áp dụng kiến thức vào thực tiễn, áp dụng các kỹ năng công nghệ thông tin, phát triển kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng sống, kỹ năng công nghệ, kỹ năng tƣ duy, kỹ năng tự quản lý đồng thời phát triển thái độ tích cực, tự tin…cho học sinh [15]. Năm 2008, các tác giả Đỗ Hƣơng Trà và Phùng Việt Hải đã có bài viết đánh giá rất cao về kết quả thu đƣợc qua việc vận dụng dạy học dự án với đối tƣợng là sinh viên sƣ phạm Vật lý trƣờng Đại học Tây Nguyên [18]…Ngoài các bài viết đƣợc đăng trên các tạp chí, rất nhiều các đề tài, luận văn, luận án nghiên cứu vận dụng dạy học dự án vào dạy học các môn học chƣơng trình phổ thông, nhƣ môn Vật lý lớp 10 nâng cao của tác giả Hoàng Thị Nguyên [12], môn Công nghệ 11 của tác giả Lê Thị Thu Trang [17],…Đặc biệt là luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Diệu Thảo đã nghiên cứu rất chi tiết về dạy học dự án và việc vận dụng trong đào tạo Giáo viên trung học cơ sở môn Công nghệ [13].
Trong các bài viết, các đề tài trên thì phƣơng pháp dạy học theo dự án chủ yếu nghiên cứu tác dụng vào việc nâng cao chất lƣợng đào tạo giáo viên hoặc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong một số môn học lý thuyết ở trƣờng phổ thông mà chƣa áp dụng vào việc nâng cao năng lực thực hành cho sinh viên khối các trƣờng kỹ thuật đặc biệt vận dụng vào việc nâng cao chất 5 lƣợng dạy học một số môn học đặc thù trong các trƣờng Cao đẳng nhƣ môn đun tiện lỗ 1.2 Khái niệm cơ bản về dạy học dự án 1.1 Khái niệm dự án Thuật ngữ ―dự án‖ trong tiếng Anh là ―Project‖, có nguồn gốc từ tiếng La tinh ―Projectum‖ và ngày nay đƣợc hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế hoạch. Khái niệm dự án đƣợc sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội: trong sản xuất, doanh nghiệp, trong nghiên cứu khoa học cũng nhƣ trong quản lý xã hội…[5]. Trong đại từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Nhƣ Ý [19], dự án là ―một dự thảo, một văn kiện quan trọng về luật pháp hay kế hoạch‖. Theo từ điển Tiếng Việt của tác giả Bùi Quang Tịnh [16], dự án là ―bản dự thảo về một việc gì‖.
Trong th ực ti ễn s ản xu ất, kinh t ế - xã hội, khái ni ệm d ự án đƣợc sử dụng phổ biến, và đƣợc đặc trƣng bở i tính không lặ p l ại của các điều ki ện thực hi ện dự án. Từ đó có thể hiểu dự án là một dự định, một kế hoạch đƣợc xác định rõ mục tiêu, thời gian, trình tự thực hiện trong những điều kiện xác định và có tính phức hợp, liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau nhằm thực hiện mục tiêu của dự án. Một dự án nói chung có những đặc điểm cơ bản sau: - Có mục tiêu đƣợc xác định rõ ràng. - Có thời gian qui định cụ thể.
- Có nguồn tài chính, vật chất, nhân lực giới hạn. - Mang tính duy nhất (phân biệt với các dự án khác). - Mang tính phức hợp, tổng thể. Dựa trên các tiêu chí khác nhau, có nhiều hệ thống phân loại dự án khác nhau.
Theo tác giả Phan Văn Kha và nhiều tài liệu khác có thể phân loại dự án nhƣ sau: - Dựa theo đặc điểm nội dung của dự án: Các loại dự án đầu tƣ – xây dựng; dự án nghiên cứu – phát triển; dự án tổ chức; dự án xã hội; dự án kinh tế; dự án hỗn hợp. - Dựa theo các ngành kinh tế xã hội: Dự án chính trị; dự án các ngành kinh tế; dự án văn hóa; dự án giáo dục. - Dựa theo phạm vi và độ phức tạp về mặt xã hội, nhân văn, kinh tế và khoa học kỹ thuật: Dự án xã hội nhân văn; dự án kỹ thuật; dự án chiến lƣợc. 6 - Dựa theo thành phần tham gia: Dự án bên trong, dự án bên ngoài.
- Dựa theo qui mô của dự án: Dự án lớn, dự án vừa, dự án nhỏ. Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau. Dự án có tính hỗn hợp là dự án kết hợp nhiều loại dự án khác nhau. Trong lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại dự án theo những đặc thù riêng.
Thực hiện dự án là xác định và dẫn dắt đến thành công một tổ hợp các hành động – quyết định và công việc phụ thuộc lẫn nhau trong mục đích của chúng và trong chuỗi liên kết của chúng với nhau, nhằm đáp ứng một nhu cầu đã đƣợc đặt ra. Xuất phát điểm của dự án là việc hình thành một ý tƣởng. Tuy nhiên, ý tƣởng có trở thành hiện thực trong thực tiễn hay không còn tùy thuộc vào cơ hội nắm bắt, tận dụng đƣợc cơ hội đó [10]. Theo Andy Bruce và Ken Langdon, tiến trình thực hiện một dự án gồm 5 giai đoạn chính: - Khởi đầu (xem xét vai trò của những nhân vật then chốt trong dự án).
- Hoạch định dự án (mô tả tầm nhìn của dự án, thiết lập mục tiêu và hoạch định kế hoạch chi tiết của dự án). - Triển khai kế hoạch (xem xét vai trò của từng thành viên, xây dựng nhóm thực hiện, khuyến khích và phát triển tinh thần đồng đội; lãnh đạo nhóm đúng cách, có hiệu quả và biết hòa giải các xung đột trong nhóm).