Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC VẬN DỤNG BLENDED LEARNING TRONG DẠY HỌC HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA FACEBOOK 1. Khái niệm, cấu trúc và các biểu hiện hình vi của năng lực tự học 1. Khái niệm năng lực tự học 1. Khái niệm về năng lực NL là một phạm trù từng được bàn đến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội.
Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực. Theo từ điển tiếng Việt “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Đứng về góc độ tâm lý học, NL trở thành đối tượng nghiên cứu chuyên sâu từ thế kỷ XIX, trong các công trình thực nghiệm của F.Ganton NL có những biểu hiện như tính nhạy bén, chắc chắn, sâu sắc và dễ dàng trong quá trình lĩnh hội mộthoạt động mới nào đó.
Người có NL là người đạt hiệu suất và chất lượng hoạt động cao trong các hoàn cảnh khách quan và chủ quan như nhau. NL gắn bó chặt chẽ với tính định hướng chung của nhân cách. Từ điển tâm lý học đưa ra khái niệm, NL là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định. Theo Cosmovici thì: “NL là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định” [15].Leonchiev cho rằng: “NL là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định” [18].
Nhà tâm lý học A.Rudich đưa ra quan niệm về NL như sau: NL đó là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo, cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định. NL của con người không chỉ là kết quả của sự phát triển và GD, mà còn là kết quả hoạt động của các đặc điểm bẩm sinh hay còn gọi là năng khiếu. NL đó là năng khiếu đã được phát triển, có năng khiếu chưa có nghĩa là nhất thiết sẽ biến thành NL. Muốn vậy phải có môi trường xung quanh tương ứng và phải có sự giáo dục có chủ đích [20].
Trong các giáo trình tâm lý học, các tác giả cũng đã đưa ra khá nhiều quan niệm về NL. Trong đó đa số đều quan niệm, NL là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá 8 nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt. NL vừa là tiền đề, vừa là kết quả của hoạt động, vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời NL cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy. Theo quan điểm của Tâm lý học Mác xít, NL của con người luôn gắn liền với hoạt động của chính họ.
Như vậy, khi nói đến NL thì không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân, đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn. Theo chương trình giáo dục phổ thông, chương trình tổng thể thì: “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loạt hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong điều kiện cụ thể” [3]. Như vậy, dựa trên quan niệm của nhiều tác giả đưa ra ở trên có thể hiểu: NL là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của mình để giải quyết một tình huống, thực hiện hoạt động hoặc nhiệm vụ nào đó trong học tập hoặc cuộc sống một cách có hiệu quả. Khái niệm về tự học và năng lực tự học Từ xưa đến nay, việc TH được xem như là yếu tố quyết định vào sự thành bại của người học.
Có rất nhiều khái niệm về TH từ các nhà GD học cho đến các nhà tâm lý học. Các nhà GD học có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm TH: “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định” [2]. “Tự học là việc học độc lập của người học diễn ra song song với quá trình dạy học” [1]. “Tự học là tự mình dùng các giác quan để thu nhận thông tin rồi tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (so sánh, quan sát, phân tích, tổng hợp,.) và có khi cả cơ bắp (khi sử dụng các công cụ) cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó.) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [11].
“Tự học là một hoạt động rất phức tạp, bao gồm kĩ năng và kĩ xảo, gắn với động cơ và thói quen tương ứng để người học có thể đáp ứng được những yêu cầu công việc đặt ra” [12]. Theo quan niệm của nhà tâm lý học N. Thông qua các định nghĩa đã nêu ở trên, chúng tôi rút ra được định nghĩa về TH như sau: TH là quá trình trong đó bản thân người học phải tự động não, tự suy nghĩ, tự tìm tòi bằng chính khả năng và sức lực của mình để biến các kiến thức tiếp thu được từ sách vở, từ cuộc sống thành kiến thức của mình. Từ các khái niệm về NL và TH như trên, ta có thể hiểu: NLTH là khả năng mà người học xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức và vận dụng kiến thức để đạt được những kết quả như mong muốn.
Cấu trúc và các biểu hiện hành vi của năng lực tự học 1. Các biểu hiện của NLTH NLTH là một khái niệm trừu tượng và bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố. Trong nghiên cứu khoa học, để xác định được sự thay đổi các yếu tố của NLTH sau một quá trình học tập, các nhà nghiên cứu đã tập trung mô phỏng, xác định những dấu hiệu của NLTH được bộc lộ ra ngoài. Đều này đã được thể hiện trong một số nghiên cứu dưới đây: Tác giả Candy đã liệt kê 12 biểu hiện của người có NLTH.
Ông chia thành 2 nhóm để xác định nhóm yếu tố nào sẽ chịu tác động mạnh từ môi trường học tập, được mô tả ở hình 1. Sơ đồ biểu hiện của NLTH Nhóm đặc biệt bên ngoài: chính là phương pháp học nó chứa đựng các kỹ năng học tập cần phải có của người học, chủ yếu được hình thành và phát triển trong quá trình học, do đó phương pháp dạy của giáo viên sẽ có tác động rất lớn đến phương pháp học của học trò, tạo điều kiện để hình thành, phát triển và duy trì NLTH. Nhóm đặc điểm bên trong (tính cách) được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua các hoạt động sống, trải nghiệm của bản thân và bị chi phối bới yếu tố tâm lý. Chính vì điều đó mà giáo viên nên tạo môi trường để HS được thử nghiệm và kiểm chứng bản thân, đôi khi chỉ cần phản ứng đúng sai trong nhận thức hoặc nhận được lời động viên, khích lệ cũng tạo ra được động lực để người học phấn đấu, cố gắng tự học.
10 Tác giả Taylor, khi nghiên cứu về vấn đề TH của HS trong trường phổ thông đã xác định NLTH có những biểu hiện được mô tả như hình 1. Sơ đồ biểu hiện của người có NLTH Taylor đã xác nhận người tự học là người có động cơ học tập và bền bỉ, có tính độc lập, kỉ luật, tự tin và biết định hướng mục tiêu, có kỹ năng hoạt động phù hợp. Thông qua mô hình trên tác giả đã phân tích ra có ba yếu tố cơ bản của người tự học, đó là thái độ, tính cách và kỹ năng. Có thể nhận thấy, sự phân định đó để nhằm xác định rõ ràng những biểu hiện tư duy của bản thân và khả năng hoạt động trong thực tế chứ không đơn thuần chỉ đề cập đến khía cạnh tâm lí của người học.
Tác giả Đổ Hương Trà, Cùng các cộng sự, (2018), Khi nghiên cứu về vấn đề tự học của HS cũng xác định tự học gồm 3 thành tố: (1) thái độ TH; (2) Tính cách khi TH; (3) kĩ năng tự học và có thể biểu diễn ở sơ đồ hình 1.3 dưới đây [12]: Hình 1. Biểu hiện của người có NLTH Như vậy, những biểu hiện của NLTH luôn chịu ảnh hưởng của các nhân tố: tâm lý, thể chất, khả năng nhận thức, môi trường sống và học tập, PPDH, khả năng thực 11 hiện các hoạt động học tập,… Người học muốn có được NLTH thì phải tự chủ trong việc hàng loạt các hoạt động học tập có tính phức hợp được lặp đi lặp lại; quá trình này đòi hỏi người học phải kiên trì và có phương pháp học tập hiệu quả. Cấu trúc của năng lực tự học Dựa trên cơ sở khoa học, cấu trúc NLTH là tổ hợp của nhiều năng lực thành tố, thực hiện các hoạt động thành phần có quan hệ chặt chẽ với nhau trong một tình huống có ý nghĩa với HS. Như vậy, có thể xác định cấu trúc NLTH trên một chuỗi hành động.
Thông qua việc thực hiện các hành động này mà các biểu hiện của NLTH sẽ được thể hiện. NLTH là một trong những NL chung chủ yếu của người học, được cấu trúc gồm 4 thành tố - Xác định động cơ, mục đích học tập. - Lập kế hoạch học tập. - Thực hiện kế hoạch học tập.
- Đánh giá, điều chỉnh hoạt động học tập. Có thể cụ thể hóa kết quả đánh giá NLTH của HS thông qua các chỉ số hình vi như ở bảng 1.1: Bảng cấu trúc của năng lực tự học Năng lực Chỉ số hành vi thành tố Xác định động 1. Xác định nội dung cần học cơ, mục đích học 1. Xác định kiến thức kĩ năng liên quan đã có, đã biết tập 2.
Xác định phong cách học tập của bản thân Lập kế hoạch 2. Lựa chọn phương pháp học tập học tập 2. Lập thời gian biểu tự học 3. Làm việc với tài liệu Thực hiện kế 3.