Luận Án Tiến Sĩ Về Sự Vận Động Tư Tưởng Trong Các Đảng Phái Chính Trị Ở Việt Nam Thời Kỳ Cận Đại

Luận án tiến sĩ phân tích sự vận động tư tưởng trong các đảng phái chính trị ở Việt Nam thời kỳ cận đại, khám phá ảnh hưởng và biến đổi tư tưởng.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2015

252
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.3. Những thành tựu đã đạt được và những vấn đề cần giải quyết

2. CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CÁC CHÍNH ĐẢNG Ở VIỆT NAM THỜI KỲ CẬN ĐẠI

2.1. Một số vấn đề lý thuyết. Khái niệm chính đảng (đảng chính trị)

2.2. Khái niệm chính đảng trong điều kiện lịch sử cụ thể ở Việt Nam thời kỳ cận đại

2.3. Một số vấn đề lý thuyết khác có liên quan

2.4. Những tiền đề hình thành các chính đảng ở Việt Nam thời kỳ cận đại

2.4.1. Những tiền đề kinh tế - xã hội

2.4.2. Ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng và mô hình chính trị phương Tây

2.5. Sự hình thành các đảng phái chính trị ở Việt Nam thời kỳ cận đại

2.5.1. Các tổ chức chính trị “tiền đảng phái”

2.5.2. Sự hình thành một số đảng phái chính trị của người Việt (1919-1930)

2.5.3. Sự hình thành một số đảng phái chính trị Việt Nam (1930-1945)

2.6. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: SỰ VẬN ĐỘNG TƯ TƯỞNG TRONG CÁC ĐẢNG PHÁI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1930

3.1. Từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản. Từ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đến Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ Tân Việt đến Đông Dương Công sản Liên đoàn

3.2. Vận động tư tưởng trong các chính đảng dân tộc chủ nghĩa

3.3. Vận động tư tưởng trong chính đảng dân tộc cách mạng - Trường hợp Việt Nam Quốc dân đảng

3.4. Từ chủ nghĩa dân tộc ôn hòa đến tư tưởng thân Pháp - Trường hợp Đảng Lập hiến

3.5. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: SỰ VẬN ĐỘNG TƯ TƯỞNG TRONG CÁC ĐẢNG PHÁI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1945

4.1. Vận động tư tưởng trong Đảng Cộng sản Đông Dương và đấu tranh tư tưởng trong phong trào cộng sản

4.2. Đảng Cộng sản Đông Dương và quá trình hoàn thiện tư duy về con đường giải phóng dân tộc

4.3. Cuộc đấu tranh tư tưởng giữa Đảng Cộng sản Đông Dương và nhóm Trotskyist

4.4. Vận động tư tưởng trong các đảng phái chính trị phi vô sản

4.5. Vận động tư tưởng trong các đảng phái cấp tiến

4.6. Vận động tư tưởng trong một số đảng phái dân tộc chủ nghĩa khác

4.7. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Vận Động Tư Tưởng Trong Đảng Phái Chính Trị Việt Nam

Vận động tư tưởng trong các đảng phái chính trị Việt Nam thế kỷ 20 là một chủ đề quan trọng, phản ánh sự phát triển và biến đổi của tư tưởng chính trị trong bối cảnh lịch sử đầy biến động. Từ đầu thế kỷ 20, nhiều đảng phái đã ra đời với những tư tưởng khác nhau, nhằm mục tiêu đấu tranh cho độc lập dân tộc và xây dựng một nền chính trị mới. Sự đa dạng trong tư tưởng chính trị đã tạo nên một bức tranh phong phú về các đảng phái, từ Đảng Cộng sản Việt Nam đến các đảng phái dân tộc chủ nghĩa khác. Việc nghiên cứu sự vận động tư tưởng không chỉ giúp hiểu rõ hơn về các chính đảng mà còn góp phần làm sáng tỏ bản chất chính trị của từng tổ chức.

1.1. Khái Niệm Về Vận Động Tư Tưởng Trong Chính Trị

Vận động tư tưởng trong chính trị được hiểu là quá trình thay đổi, chuyển biến về tư tưởng chính trị của các đảng phái dưới tác động của các yếu tố lịch sử, xã hội. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Việt Nam, nơi mà các đảng phái phải đối mặt với nhiều thách thức từ thực dân và phong kiến.

1.2. Lịch Sử Hình Thành Các Đảng Phái Chính Trị Việt Nam

Từ năm 1919 đến 1945, nhiều đảng phái chính trị đã ra đời, mỗi đảng mang trong mình những tư tưởng và phương pháp đấu tranh riêng. Các đảng như Đảng Cộng sản Việt Nam, Việt Nam Quốc dân đảng, và Đảng Lập hiến đã có những đóng góp quan trọng trong phong trào yêu nước.

II. Những Thách Thức Trong Vận Động Tư Tưởng Của Các Đảng Phái

Trong quá trình vận động tư tưởng, các đảng phái chính trị Việt Nam đã phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Những thách thức này không chỉ đến từ sự đàn áp của thực dân mà còn từ sự phân hóa nội bộ trong chính các đảng phái. Sự khác biệt về tư tưởng và phương pháp đấu tranh đã dẫn đến những cuộc xung đột nội bộ, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các đảng phái.

2.1. Sự Đàn Áp Của Thực Dân Pháp

Thực dân Pháp đã áp dụng nhiều biện pháp đàn áp nhằm ngăn chặn sự phát triển của các đảng phái chính trị. Điều này đã tạo ra một môi trường khó khăn cho việc vận động tư tưởng và tổ chức hoạt động chính trị.

2.2. Phân Hóa Nội Bộ Trong Các Đảng Phái

Sự phân hóa về tư tưởng và chiến lược giữa các thành viên trong đảng đã dẫn đến những cuộc tranh cãi và xung đột. Điều này không chỉ làm suy yếu sức mạnh của các đảng phái mà còn ảnh hưởng đến phong trào yêu nước.

III. Phương Pháp Vận Động Tư Tưởng Trong Các Đảng Phái Chính Trị

Các đảng phái chính trị Việt Nam đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để vận động tư tưởng. Từ việc sử dụng báo chí, truyền thông đến tổ chức các cuộc mít tinh, các đảng phái đã tìm cách thu hút sự chú ý của quần chúng và xây dựng lực lượng. Những phương pháp này không chỉ giúp nâng cao nhận thức của người dân mà còn tạo ra sức mạnh cho phong trào yêu nước.

3.1. Sử Dụng Báo Chí Làm Công Cụ Tuyên Truyền

Báo chí đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc tuyên truyền tư tưởng chính trị. Nhiều tờ báo đã được thành lập để truyền tải thông điệp của các đảng phái, từ Đảng Cộng sản đến các đảng phái dân tộc chủ nghĩa.

3.2. Tổ Chức Các Cuộc Mít Tinh Và Biểu Tình

Các cuộc mít tinh và biểu tình đã được tổ chức để mobilize quần chúng tham gia vào phong trào yêu nước. Đây là một phương pháp hiệu quả để thể hiện sức mạnh và sự đoàn kết của các đảng phái.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Vận Động Tư Tưởng Trong Đảng Phái

Sự vận động tư tưởng trong các đảng phái chính trị không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn có những ứng dụng thực tiễn rõ rệt. Những tư tưởng được hình thành đã ảnh hưởng đến các chính sách và chiến lược đấu tranh của các đảng phái, góp phần vào thành công của phong trào giải phóng dân tộc.

4.1. Tác Động Đến Chính Sách Đấu Tranh

Các tư tưởng chính trị đã định hình các chính sách đấu tranh của các đảng phái. Sự thay đổi trong tư tưởng đã dẫn đến những điều chỉnh trong chiến lược và phương pháp đấu tranh.

4.2. Kết Quả Của Các Cuộc Đấu Tranh Chính Trị

Kết quả của sự vận động tư tưởng đã thể hiện rõ trong các cuộc đấu tranh chính trị. Những thành công và thất bại của các đảng phái đã phản ánh sự hiệu quả của tư tưởng mà họ theo đuổi.

V. Kết Luận Về Vận Động Tư Tưởng Trong Đảng Phái Chính Trị Việt Nam

Vận động tư tưởng trong các đảng phái chính trị Việt Nam thế kỷ 20 là một quá trình phức tạp và đa dạng. Những tư tưởng được hình thành không chỉ ảnh hưởng đến các chính sách và chiến lược của các đảng phái mà còn góp phần vào sự phát triển của phong trào yêu nước. Việc nghiên cứu sâu về vấn đề này sẽ giúp hiểu rõ hơn về lịch sử chính trị Việt Nam và những bài học cho hiện tại.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Vận Động Tư Tưởng

Nghiên cứu về vận động tư tưởng trong các đảng phái chính trị vẫn còn nhiều tiềm năng. Các nhà nghiên cứu có thể tiếp tục khai thác các khía cạnh chưa được làm rõ để làm sáng tỏ hơn về lịch sử chính trị Việt Nam.

5.2. Bài Học Cho Các Đảng Phái Hiện Nay

Những bài học từ quá trình vận động tư tưởng trong các đảng phái chính trị Việt Nam có thể được áp dụng cho các đảng phái hiện nay. Việc hiểu rõ về tư tưởng và phương pháp đấu tranh sẽ giúp các đảng phái phát triển bền vững hơn.

23/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Những nghiên cứu liên quan đến đề tài ở Việt Nam có thể chia ra làm ba giai đoạn: trước năm 1954, sau năm 1954 đến trước đổi mới và những nghiên cứu những năm gần đây. Trước năm 1954: Trong điều kiện nước ta vẫn còn nằm dưới ách thống trị của thực dân Pháp, nghiên cứu về các đảng phái chính trị khó có thể có thành tựu. Tuy nhiên, trên phương diện lý luận, đáng chú ý có hai cuốn sách giới thiệu cách sơ lược về các hình thức tổ chức chính trị là cuốn Hội kín xuất bản năm 1935 và cuốn Tổ chức chính trị trong một quốc gia độc lập do Impr.

Tân Việt xuất bản năm 1945. Đối với những vấn đề lịch sử cụ thể, tài liệu thuộc dạng sớm về lịch sử chính trị ở Đông Dương là cuốn Contribution à l’histoire des mouvements politiques de L’Indochine Française (Góp phần vào lịch sử chính trị Đông Dương thuộc Pháp) của Louis Marty - Giám đốc An ninh Đông Dương do Phủ Toàn quyền Đông Dương xuất bản tại Hà Nội năm 1933-1934 gồm 7 tập. Cuốn sách đã cung cấp những tư liệu quan trọng về hoạt động của các đảng phái, các phong trào chính trị. Tuy nhiên, do được xây dựng dựa trên lời khai của tù chính trị nên cuốn sách chứa đựng những thông tin không chính xác vì phạm nhân thường có xu hướng nhấn mạnh “công” và chối “tội”.

Mặt khác, về mặt quan điểm, vì tác giả là một nhân vật nắm vị trí trọng trách trong chính quyền thực dân nên có một số nhận định cực đoan khi coi hầu hết các đảng phái là các tổ chức phiến loạn. Về các đảng phái cụ thể, có hai cuốn sách của Nhượng Tống về hai tổ chức chính trị tiêu biểu thời cận đại là Tân Việt với Tân Việt cách mệnh đảng do Việt Nam thư xã ấn hành năm 1945 và về lãnh tụ Nguyễn Thái Học của Việt Nam Quốc dân đảng. Nguyễn Thế Nghiệp - một đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng (VNQDĐ) có công trình Việt Nam Quốc dân đảng tại hải ngoại đăng trên Hải Phòng nhật báo năm 1945. Cùng đề tài, Bạch Diện cũng viết cuốn Nguyễn Thái Học và Việt Nam Quốc dân đảng in tại Hà Nội năm 1950.

Giá trị của những công trình này nằm ở chỗ tác giả của chúng là những người cùng thời, thậm chí là người trực tiếp tham gia VNQDĐ nên có những hiểu biết về nhân vật và thời cuộc. Do đó, với tư cách là những ấn phẩm sớm nhất viết và tôn vinh Nguyễn Thái Học và VNQDĐ chúng đều chứa đựng những tư liệu lịch sử có giá trị để những thế hệ sau 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiếp tục nghiên cứu. Tuy nhiên, những cuốn sách nói trên cũng cho thấy thái độ chống cộng quyết liệt của Nhượng Tống hay những câu chữ đề cao đóng góp của cá nhân Nguyễn Thế Nghiệp mà người nghiên cứu khó kiểm chứng được độ xác thực. Ngoài ra, có giá trị nhất trong những công trình viết về các đảng phái chính trị trước năm 1954 phải kể đến loạt 12 bài của Phan Khôi đăng trên báo Trung Lập năm 1930 về Đảng Lập Hiến có tựa đề “Nói về Đảng Lập hiến ở Nam Kỳ”.

Đọc loạt bài này ta không khỏi ngạc nhiên trước cách đánh giá sâu sắc của một học giả viết cách chúng ta nhiều năm khi nhận định tương đối chính xác những đóng góp cũng như những hạn chế của Đảng Lập hiến trên nhiều bình diện (tư tưởng, tổ chức, hoạt động…). Trong khoảng thời gian những năm 1951-1952, trên tạp chí Phổ Thông do Hội Sinh viên trường Luật ấn hành, Văn Huy trong bài “Phong trào quốc gia ở Việt Nam” cũng đề cập một cách sơ lược đến các đảng phái chính trị ở Việt Nam. Sau khi hòa bình được lập lại trên miền Bắc (năm 1954), công tác nghiên cứu lịch sử nói chung, lịch sử cận hiện đại Việt Nam mới được đẩy mạnh. Cũng trong năm đó, Ban nghiên cứu Văn học, Lịch sử, Địa lý được chuyển đổi trên cơ sở tổ chức tiền thân là Ban nghiên cứu Lịch sử, Địa lý, Văn học thuộc Trung ương Đảng được thành lập ngay trong thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang trong giai đoạn quyết liệt nhất (2/12/1953).

Cơ quan phát ngôn thông tin của Ban là Tạp chí Văn - Sử - Địa cũng được ra đời. Về lịch sử cách mạng Việt Nam thời cận đại, đáng chú ý có tập tài liệu gồm 12 tập do Trần Huy Liệu cùng một số cán bộ nghiên cứu của Ban nghiên cứu Văn - Sử - Địa biên soạn mang tên Tài liệu tham khảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam. Cho đến nay đây vẫn là công trình có giá trị tư liệu cao, cung cấp một số tư liệu quan trọng liên quan đến cương lĩnh, chương trình hành động và các văn kiện khác của các đảng phái chính trị thời cận đại. Cuốn Lịch sử 80 năm chống Pháp cũng của Trần Huy Liệu cũng là một trong những công trình sử học tiên phong của giới sử học Việt Nam non trẻ.

Quyển 2 của bộ sử này đề cập đến phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1930, trong đó có một nội dung quan trọng là các đảng phái chính trị. Tuy nhiên, trong khuôn khổ một công trình tổng quát về lịch sử Việt Nam, cuốn sách không có điều kiện đi sâu về các đảng phái mà chỉ giới thiệu sơ lược về tư tưởng chính trị và hoạt động của các đảng phái này. Đối với những tổ chức chính trị phi vô sản, nhìn chung, cách nhìn nhận, đánh giá còn dè dặt. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khắc phục những hạn chế của những tập sách nói trên, các bộ thông sử về lịch sử Việt Nam cận đại ra đời sau như bộ Lịch sử cận đại Việt Nam xuất bản năm 1963 của nhóm tác giả Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Kiều Xuân Bá; cuốn Lịch sử Việt Nam của Hồ Song in năm 1979 và Lịch sử Việt Nam in năm 1985 của Nguyễn Khánh Toàn, và gần đây nhất là hai cuốn Đại cương lịch sử Việt Nam tập 2 (xuất bản lần đầu năm 1998 và được tái bản nhiều lần) và Lịch sử Việt Nam tập 3 (năm 2012) cùng do GS.

Đinh Xuân Lâm chủ biên đề cập ngày một sâu hơn về các đảng phái cũng như sự chuyển biến tư tưởng ở Việt Nam thời cận đại. Nhìn chung, hệ tư tưởng, hoạt động, những nhận định, đánh giá về các chính đảng cũng ngày một khách quan và sâu sắc hơn. Tuy nhiên, với tư cách là những bộ thông sử, các bộ sách đó cũng chỉ giới thiệu khái quát mà không có điều kiện đi sâu vào các khía cạnh của các vấn đề khoa học có liên quan. Tại miền Nam trước năm 1975, cuốn Việt Nam Pháp thuộc sử 1862-1945, Khai Trí xuất bản tại Sài Gòn năm 1961 của Phan Khoang cũng là bộ thông sử tương đối quen thuộc với giới nghiên cứu.

Trong đó, tác giả dành chương 5 với tựa đề Tranh đấu, giải phóng để giới thiệu về phong trào yêu nước từ Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu đến hoạt động của các đảng phái trước năm 1945. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản không được đề cập và mặc dù có mục về các đảng chính trị nhưng dung lượng chỉ chưa đến 10 trang (từ trang 466 đến 476). Dưới góc độ khoa học chính trị, bộ sách hai tập của Tiến sĩ chính trị học Nguyễn Ngọc Huy Lịch sử các học thuyết chánh trị (năm 1971) là một tài liệu quý, không chỉ cung cấp những kiến thức cơ bản về các học thuyết chính trị trên thế giới mà còn đề cập đến các học thuyết chính trị ở Việt Nam như chủ nghĩa duy tân (đảng Đại Việt Duy tân), chủ nghĩa dân tộc sinh tồn (Đại Việt Quốc dân đảng), chủ nghĩa nhân vị v. Bên cạnh những cuốn thông sử, đã xuất hiện những công trình chuyên khảo về một đảng chính trị cụ thể.

Chiếm đa số vẫn là hàng ngàn cuốn sách, bài tạp chí, luận án tiến sĩ, luận văn cao học, khóa luận tốt nghiệp khai thác nhiều khía cạnh của lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong những năm 1976-1977, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương đã cho ra mắt những bộ tư liệu rất quý có tên là Các tổ chức tiền thân của Đảng. Đây là nguồn tư liệu tương đối tin cậy để tìm hiểu về những tổ chức cách mạng trước khi thành lập Đảng. Liên quan đến đề tài luận án, có thể kể ra một số công trình tiêu biểu như Lê Mậu Hãn (Sức mạnh dân tộc dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Các đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, Các cương lĩnh cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam); Phạm Xanh (Nguyễn Ái Quốc và 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, Hồ Chí Minh: Dân tộc và Thời đại, Đi tìm nguồn gốc của những biểu hiện ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh); Vũ Quang Hiển (Đảng với vấn đề nông dân, nông nghiệp, và nông thôn (1930-1975)); Phạm Hồng Tung (Lịch sử cuộc vận động vì các quyền dân sinh, dân chủ ở Việt Nam (1936-1939), Lịch sử cuộc cách mạng tháng Tám 1945 ở Việt Nam); Ngô Đăng Tri (Sự thống nhất cơ bản giữa Chánh cương và Luận cương của Đảng năm 1930); Hồ Thị Tố Lương (Quốc tế Cộng sản và Cách mạng Việt Nam)v.

Những công trình kể trên đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề quan trọng trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó quan trọng nhất là những vấn đề sau: Thứ nhất, vấn đề thành lập Đảng và vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong truyền bá chủ nghĩa Marx-Lenin, trong chuẩn bị tư tưởng - tổ chức để thành lập Đảng, trong việc đề ra Cương lĩnh chính trị đầu tiên đúng đắn và sáng tạo. Thứ hai, vấn đề đường lối chiến lược giải phóng dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1930 đến thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945, đường lối đó đã thay đổi như thế nào trong từng giai đoạn lịch sử, nhân tố chủ quan và khách quan gì đã tác động đến sự thay đổi đó đó. Thứ ba, mối quan hệ đa chiều giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, giữa Quốc tế Cộng sản (QTCS) và ĐCSVN.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ