Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tài nguyên chung/cộng đồng, chế độ quyền sở hữu và hành động tập thể 1. Tài nguyên chung (Common-pool resources) Tại nhiều khu vực, các dạng tài nguyên thiên nhiên, như các vùng nước, bãi chăn thả và rừng, không phải do các cá nhân hoặc Nhà nước nắm giữ mà do các cộng đồng địa phương hoặc các nhóm người quản lý và sử dụng. Do đó, hiểu được các đặc điểm của tài nguyên và chế độ quyền sở hữu mà tài nguyên được nắm giữ là rất quan trọng trong công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên.
Tùy thuộc vào hai đặc điểm khi sử dụng: (i) khả năng loại trừ người khác tiếp cận và sử dụng và (ii) bản chất mất đi khi sử dụng, tất cả các hàng hóa/tài nguyên và dịch vụ có thể được phân thành bốn loại: hàng hóa tư nhân1, hàng hóa công cộng/tập thể2, hàng hóa/dịch vụ có thu phí/câu lạc bộ3 và hàng hóa chung/cộng đồng (Bảng 1. Hàng hóa chung có đặc điểm: (i) khả năng loại trừ thấp và (ii) có tính mất đi khi sử dụng. Nhiều khu rừng, đồng cỏ, tài nguyên biển và vùng nước ngầm có các đặc điểm của hàng hóa chung. Thuật ngữ “the common” (“hàng hóa chung”) của Gordon (1954) và Hardin (1968), “common property resources” (“tài sản chung”) của Berkes và cs (1996), và thuật ngữ “common-pool resources” (“tài nguyên chung”) của Ostrom (1990) đã được sử dụng để mô tả cho loại tài nguyên này.
Mặc dù tài nguyên chung không phải là hàng hóa công cộng hay hàng hóa tư nhân nhưng nó có chung một số đặc điểm của cả hai. Tương tự như hàng hóa công cộng, tài nguyên chung có các đặc điểm về tính cùng sử dụng chung và khả năng loại trừ người khác tiếp cận và sử dụng tài nguyên đó là thấp. Có nghĩa là một hệ thống tài nguyên, ví dụ như một 1 Hàng hóa tư nhân được đặc trưng bởi tính loại trừ cao và sự cạnh tranh cao trong tiêu dùng/sử dụng. Cây trong vườn nhà và đất nông nghiệp của hộ gia đình cá nhân là ví dụ của hàng hóa tư nhân.
2 Ngược lại, hàng hóa công cộng hoàn toàn khác với hàng hóa tư nhân. Chúng được đặc trưng bởi tính loại trừ thấp và cùng sử dụng trong tiêu dùng. Tính loại trừ thấp sẽ dẫn đến không ai bị ngăn chặn việc tiếp cận và hưởng lợi từ hàng hóa đó. Hàng hóa công cộng thuần túy cũng được đặc trưng bởi tính loại trừ thấp như hàng hóa công cộng, nhưng không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng.
Nó có nghĩa là việc sử dụng hàng hóa công cộng thuần túy của một người không làm giảm số lượng và giá trị của hàng hóa đối với người khác. Chất lượng không khí được cải thiện và an ninh quốc phòng được coi là những ví dụ hàng hóa công cộng thuần túy. 3 Khi khả năng loại trừ là tương đối dễ dàng, nhưng việc hưởng thụ lợi ích là chung chứ không có tính loại trừ, hàng hóa này được gọi là hàng hóa/dịch vụ có thu phí. Công viên, dịch vụ săn bắn, đường cao tốc có thu phí là các ví dụ về dịch vụ có thu phí.
7 khu rừng, có thể được sử dụng đồng thời bởi nhiều người dùng chứ không phải chỉ cho cá nhân và không dễ để loại trừ người dùng khác trong việc tiếp cận và sử dụng tài nguyên đó. Giống như hàng hóa tư nhân, tài nguyên chung được đặc trưng bởi tính loại trừ trong tiêu thụ/sử dụng. Ví dụ, một số lượng cây (như một đơn vị tài nguyên) mà được khai thác từ một khu rừng (một hệ thống tài nguyên) bởi một người dùng thì sẽ không còn có sẵn cho người khác sử dụng nữa. Đặc điểm các loại hàng hóa, dịch vụ Bản chất của tiêu dùng/sử dụng Tính mất đi/loại trừ khi Cùng sử dụng sử dụng Hàng hóa tư nhân Hàng hóa có thu phí/câu Khả năng loại trừ việc tiếp cận và sử dụng hàng hoiá/dịch vụ Cây trồng trong vườn nhà lạc bộ Dễ Vườn quốc gia nơi thu phí vào cửa, đường cao tốc có thu phí Hàng hóa chung /cộng Hàng hóa công cộng đồng Chất lượng không khí, chất Gỗ, cỏ, động vật hoang dã, lượng môi trường, bảo vệ Khó v., từ các khu rừng cộng rừng nhằm cản gió, xói đồng mòn nước, v.
Nguồn: Tham khảo từ Thomson và Freudenberger (1997) Các đặc điểm của loại tài nguyên chung có thể gây ra những vấn đề tiềm ẩn trong việc sử dụng. Tương tự như việc sử dụng hàng hóa công cộng, tính loại trừ thấp có thể tạo ra hành vi lạm dụng quá mức khi sử dụng tài nguyên chung. Đó là khi một người có tính tư lợi, lý trí4 không bị loại trừ khỏi việc tiếp cận và khai thác tài nguyên chung, anh ta không có động lực để bảo vệ và quản lý lâu dài tài nguyên đó mà lại có xu hướng lạm dụng khai thác quá mức (Ostrom, 1990). Bên cạnh đó, do có tính mất đi khi sử dụng tài nguyên, vấn đề suy thoái do khai thác quá mức có thể xảy ra khi có quá 4 Một cá nhân được gọi là có tính tư lợi, lý trí nếu anh ta có xu hướng hành động để tối ưu lợi ích kinh tế cá nhân của chính mình.
Trong lý thuyết cổ điển về hành vi của con người, người có lý trí thường được hiểu là con người kinh tế. Người đó chỉ tối đa hóa lợi ích kinh tế của mình (Olson 1965; Hardin 1968). Gần đây, từ “lý trí” đã được giải thích rộng hơn; nó không chỉ bị giới hạn về lợi ích kinh tế mà còn bao gồm cả lợi ích phi kinh tế. 8 nhiều người đồng thời sử dụng một tài nguyên chung có lượng hạn chế (thực tế tất cả các loại tài nguyên luôn luôn có sự khan hiếm và hạn chế).
Vì những lý do này, tài nguyên chung thường bị lạm dụng và khai thác quá mức khả năng phục hồi của chúng và kết quả là rất dễ dẫn đến sự hủy hoại tài nguyên này trừ khi có các quy định về quyền tiếp cận và khai thác tài nguyên phù hợp và được thực thi hiệu quả. Nhiều nghiên cứu trước đây cho rằng việc quản lý tài nguyên chung thường dẫn đến việc làm suy thoái tài nguyên như là một kết quả không thể tránh khỏi. Quan điểm được chấp nhận rộng rãi rằng tài nguyên thiên nhiên được sở hữu chung dễ bị khai thác quá mức vì mọi người đều đặt lợi ích cá nhân của mình lên trên lợi ích chung của cộng đồng để tối đa hóa lợi ích cá nhân của chính mình. Cơ sở lý luận chính ủng hộ cho quan điểm này dựa trên bài báo nổi tiếng “Bi kịch của tài nguyên chung” đăng trên trên tạp chí Science của Hardin (1968).
Từ việc phân tích hành vi của những người chăn gia súc trong việc cùng sử dụng đồng cỏ không thuộc quyền quản lý của ai cả, Hardin kết luận rằng người dùng “tài nguyên chung” đã bị cuốn vào một tình thế không thể tránh khỏi việc dẫn đến hủy hoại tài nguyên mà họ phụ thuộc. Trong mô hình của Hardin, mỗi người chăn gia súc có xu hướng tăng số lượng đàn gia súc của anh ta không giới hạn để tối đa hoá lợi nhuận. Cuối cùng, “sự tự do sử dụng tài nguyên chung sẽ phá hủy tất cả mọi thứ”. Ông nhấn mạnh rằng vấn đề này không có giải pháp về mặt kỹ thuật và gợi ý rằng giải pháp duy nhất cho “Bi kịch của tài nguyên chung” là tư nhân hóa (sở hữu tư nhân) tài nguyên chung hoặc đặt tài nguyên dưới sự kiểm soát của chính quyền trung ương (sở hữu nhà nước) loại tài nguyên này.
Lập luận này đã có ảnh hưởng rộng rãi trong các tài liệu học thuật về tài nguyên chung và đã định hướng suy nghĩ của nhiều nhà kinh tế, quản lý và các nhà hoạch định chính sách tài nguyên thiên nhiên trong nhiều thập kỷ, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Ở Việt Nam trước đây đã có rất nhiều diện tích rừng và đất rừng do các cộng đồng quản lý, quá trình quốc hữu hoá ruộng đất (tất cả đất đai thuộc sở hữu “toàn dân”) và giao cho các đơn vị thuộc sở hữu nhà nước như các nông lâm trường quốc doanh quản lý là một ví dụ, việc này đã làm xói mòn hoặc mất đi nhiều mô hình quản lý rừng cộng đồng. Chế độ quyền sở hữu tài nguyên cộng đồng Gần đây, nhiều nhà khoa học đã nhận định rằng không phải tất cả các tài nguyên chung đều là đối tượng của một “bi kịch” và không phải lúc nào tài nguyên chung cũng bị khai thác quá mức. Một số nghiên cứu cho rằng điều quan trọng nhất đối với quản lý tài nguyên thiên nhiên không phải là loại tài nguyên mà là chế độ quyền sở hữu tài nguyên đó Ostrom, 1992; Feeny, 1994; Berkes, 1996; Pomeroy, 1996 đã phân loại bốn chế độ quyền sở hữu khác nhau: i) chế độ vô chủ, ii) chế độ sở hữu tư nhân, iii) chế độ sở hữu nhà nước và iv) chế độ sở hữu chung/cộng đồng.
Các đặc điểm chính của các chế độ này được mô tả trong Bảng 1. Nói chung, tài nguyên chung có thể được quản lý theo một trong bốn chế độ nêu trên. Trên thực tế, những nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá, ví dụ như rừng và nguồn lợi thủy sản, hầu như không bao giờ là tài nguyên vô chủ, mà chúng thường được sở hữu dưới chế độ sở hữu chung (Berkes,1996). Cho đến nay, đã có sự nhầm lẫn về sự khác biệt giữa chế độ vô chủ và chế độ sở hữu chung trong nhiều tài liệu về tài nguyên chung.
Hardin (1968) và nhiều người ủng hộ quan điểm của ông tin rằng việc quản lý tất cả các tài nguyên chung sẽ cuối cùng dẫn đến tình trạng tiến thoái lưỡng nan của “Bi kịch của tài nguyên chung”. Quan điểm này đã ủng hộ chính sách tư nhân hóa và/hoặc quốc hữu hóa tất cả các loại tài nguyên chung ở nhiều quốc gia, bao gồm cả các tài nguyên được quản lý dưới chế độ sở hữu chung/cộng đồng. Trên thực tế, lý thuyết của Hardin đã đúng đối với loại tài nguyên dưới chế độ vô chủ, nhưng không đúng với tài nguyên dưới chế độ sở hữu chung/cộng đồng. Đồng cỏ trong nghiên cứu của Hardin là tài nguyên mở đối với tất cả mọi người và không ai có quyền và nghĩa vụ cụ thể để quản lý đồng cỏ này.
Từng người chăn cừu đã cố gắng tăng số lượng gia súc của mình không giới hạn cho đến khi lợi ích cận biên từ hành động của ông ta bằng với chi phí cận biên. Trong khi đó, các ngoại ứng tiêu cực do hành động của anh ta (ở đây là sự suy giảm số lượng và chất lượng cỏ) lên người chăn cừu khác.