Chương 1. Người giáo viên trong nhà trường phố thông 23 Cuối cùng là năng lực tạo dựng môi trường học tập: dân chủ, thân thiện, hợp tác, cộng tác, thuận lợi, an toàn và lành mạnh. Xây dựng, bảo quản, sử dụng hổ sơ dạy học theo quy định. Năng lực giáo duc Năng lực giáo dục bao gồm năng lực giao tiếp sư phạm, năng lực cảm hóa học sinh, năng lực xây dựng kế hoạch và chức các hoạt động giáo dục.
Giao tiếp sư phạm là quá trình tiếp xúc tâm lí, trong đó diễn ra sự trao đổi thông tin, cảm xúc, nhận thúc và tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, nhằm thiết lập nên những mối quan hệ giáo dục giữa nhà giáo dục với đối tượng giáo dục, giữa nhà giáo dục với các lực lượng giáo dục, giữa các nhà giáo dục với nhau để thực hiện mục đích giáo dục. Trong giao tiếp sư phạm, giáo viên là chủ thể giao tiếp, dối tượng, của họ là học sinh, là giáo viên và các lực lượng giáo dục khác. Đồng thời, trong quá trình đó bản thân cũng là chủ thể giao tiếp, vì học sinh cũng có những nhận xét, những đánh giá mang tính chủ quan và dựa vào trình độ nhận thức của các em. Việc đánh giá đó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động học tập mà còn ảnh hưởng đến quá trình hình thành và rèn luyện nhân cách của học sinh.
Vì vậy, người giáo viên chính là một tấm gương sáng về nhân cách và tâm hồn, học sinh sẽ soi vào tấm. gương đó để trau đổi dạo đức. Mỗi thấy giáo, cô giáo phải luôn thể hiện rõ cái tâm trong sáng trong nghề nghiệp. Cái tâm đó chính là sự gẩn gũi, tan tinh trong day bao hoc sinh trong mọi lúc, mọi nơi mà không quản ngại gian nan, khó nhọc, công bằng, vô tư trong đánh giá học sinh mà không bị khúc xạ bởi những cám dỗ vật chất tẩm thường.
Cái tâm trong, sáng của người thay còn được thể hiện ở lòng dũng cảm, sự kiên quyết trong dấu tranh chống cái xấu, cái sai trong xã hội, những tiêu cục lệch lạc trong suy nghĩ và hành động của những đồng nghiệp và trong chính bản thân mình. Trong giao tiếp sư phạm với học sinh thì giáo viên cẩn phải mô phạm và chừng mục. Mỗi cử chỉ, điệu bộ, thái độ và hành vi ứng xử cũng như lời nói của giáo viên đểu được học sinh coi như những chuẩn mục đi 24 GIAO TRINH NGHIỆP VỤ SU PHAM1 mỗi người thấy giáo hôm nay phải không ngừng tự đổi mới, tự rèn luyện đạo đức, tác phong mẫu mực của nhà giáo để mỗi người thấy thực sự là những tấm gương sáng về đạo đúc cho học sinh noi theo. Năng lực thứ hai là năng lực xây dựng kế hoạch.
Các hoạt động giáo dục thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo đục bảo đảm tính khả thi, phù hợp với đặc điểm học sinh, phù hợp với hoàn cảnh và điểu kiện thực t in khả năng hợp tác, cộng tác với các lực lượng, giáo dục trong và ngoài nhà trường. Thực hiện nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ thông qua việc giảng dạy môn học và tích hợp. các nội dung giáo dục khác trong các hoạt động chính khoá và ngoại khoá theo kế hoạch đã xây dựng. Thực hiện nhiệm vụ giáo dục qua các hoạt động trong cộng đồng như: lao động công ích, hoạt động xã hội.
theo kế hoạch đã xây dựng. Năng lực thứ ba là năng lực cảm hóa học sinh. Lê Văn Hồng: “Năng lực cảm hóa học sinh là năng lực gây được ánh hưởng trực tiếp của mình đối với học sinh vể mặt tình cảm và ý chí. Nói cách khác đó là khả năng làm cho học sinh nghe tin và làm theo mình bằng tỉnh cảm, bằng niềm tin”, Vậy để có thể cảm hóa được học sinh, người giáo viên phải có uy tín cao trước học sinh.
Người giáo viên đó phải được học sinh kính nổ, tôn trọng. Ở lửa tuổi phổ thông, các em học sinh thường trải qua giai đoạn dậy thì day khủng hoàng và biển đổi. Các em không còn là trẻ con nhưng chưa thật sự là người lớn. Các em có những mong muốn thể hiện cả tính ban thân mình trước bạn bè và mọi người.
Tuy nhiên không phải sự thể hiện nào cũng hợp lí, có những em học sinh trong giai đoạn này thường làm trái lại những lòi khuyên bảo của thẩy cô và gia đình. Chính vì vậy, người giáo viên cũng cần có sự hiểu biết về tâm lí lứa tuổi, sự thấu cảm đẩy vị tha bao dung của người đi trước, sử dụng tình yêu thương vun đắp để cảm hóa các em. Hơn hết người giáo viên phải có sự tôn trọng chính học sinh của mình, chấp nhận những sở thích, những tư duy khác biệt, không áp đặt ý nghĩ chủ quan của chính bản thân mình lên học sinh, không tỏ ra cưỡng bức và gay gắt trước những ý kiến trái chiểu của học sinh. Cuối cùng là năng lục vận dụng các nguyên tắc, phương pháp, “Chương 1.
Người giáo viên trong nhà trường phố thông 25 đổi tượng và môi trường giáo dục, đáp ứng mục tiêu giáo dục để ra. Đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh một cách chính xác, khách quan, công bằng và có tác dụng thúc đẩy sự phẩn đấu vươn lên của học sinh, 2. (ác năng lực khác Để đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục, ngoài năng lực dạy học và năng lực giáo dục, người giáo viên cẩn phải có năng lực tìm hiểu đôi tượng và môi trường giáo dục, năng lực hoạt động chính trị - xã hội, năng lục phát triển nghề nghiệp. Một là, năng lực tìmhiểu đôi tượng va môi trudng giáo dục: Người giáo viên phải có năng lực tìm hiểu đối tượng giáo dục và môi trường giáo dục, mà trong đó phải có phương pháp thu thập và xử lí thông, tin thường xuyên về điều kiện giáo dục trong nhà trường và tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương, về như cầu và đặc điểm của học sinh, sử dụng các thông tin thu được vao day hoc, giáo dục.
Hai là, năng lực hoạt động chính trị, xã hi Hoạt động chính trị xã hội là những hoạt động chính trị, xã hội, đoàn thể quần chúng và hoạt động nhân đạo có tính chất tự nguyện của mỗi cá nhân trong xã hội nói chung và của giáo viên phổ thông nói riêng. Phối hợp với gia đình và cộng đồng trong hỗ trợ, giám sát việc học tập, rèn luyện, hướng nghiệp của học sinh và góp phẩn huy động các nguồn lực trong cộng déng phát triển nhà trường. Tham gia các hoạt động chính trị, xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm phát triển nhà trường và cộng, đồng, xây dựng xã hội học tập. Ngoài ra, tham gia vào các hoạt động, chính trị là cơ hội, điều kiên để người giáo viên rèn luyện, bộc lộ và phát triển khả năng, đóng góp súc lực trí tuệ của mình vào công cuộc phát triển chung của xã hội.
Đồng thời hình thành, phát triển niểm tin trong sáng, thái độ tình cảm, năng lực giao tiếp ứng xử, năng lục quản lí tổ chúc, và năng lực hợp tác với mọi người, biết yêu thương chia sẻ và có trách nhiệm với công việc chung của cộng đồng. Ba li, năng lực phát triển nghề nghiệp: Phát triển nghề nghiệp của một cá nhân hiểu theo nghĩa rộng có liên 26 GIAO TRINH NGHIỆP VỤ SU PHAM1 Villegass-Reimers (2003) & Gladthorn (1995) cho rang phat trién nghé nghiệp giáo viên là sự phát triển nghề nghiệp mã một giáo viên đạt được đo có các kĩ năng nâng cao (qua quá trình học tập, nghiên cứu và tích lũy. kinh nghiệm nghề nghiệp) đáp ứng các yêu cầu sát hạch việc giảng dạy, giáo dục một cách hệ thống. Phát triển nghề nghiệp giáo viên có vai trò quan trọng trong việc giúp/hỗ trợ giáo viên xây dựng những lí thuyết và thục tiễn sư phạm dé phát triển sự thành thạo trong nghề.
Theo đó, mục đích phát triển nghề nghiệp của mỗi giáo viên là để trở thành người có ảnh hưởng tích cực/ hiệu quả đến việc hình thành, phát triển hoạt động học và tự giáo dục của. Tự đánh giá, tự học và tự rèn luyện về phẩm chất chính trị, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đạy học và giáo dục. Về bản chất, phat triển nghề nghiệp giáo viên là quá trình gia tăng sự thích ứng trong lao động nghề nghiệp của người giáo viên. Thực tiễn dạy học đã khẳng định, những phương pháp giảng dạy tốt sẽ có anh hưởng, tích cực đến việc học sinh học cải gì và học như thế nào.
Người giáo viên luôn phải tự trau đổi chuyên môn của chính mình, học cách đạy và làm việc để trở thành một giáo viên giỏi, truyển được cảm hứng cho học sinh. Đó là cả một quá trình lâu dài, và kết quả của quá trình này như thế nào phụ thuộc vào mức độ tích cực của mỗi giáo viên trong việc phát triển những kiến thức nghề nghiệp cũng như các giá trị và quan điểm đạo đức nghề nghiệp của họ. Phát hiện và giải quyết những vấn để nảy sinh trong thực tiễn hoạt động nghề nghiệp nhằm đáp ứng những yêu cẩu mới trong giáo dục. Phát triển nghề nghiệp liên tục của giáo viên bao hàm phát triển năng lực dạy học và năng lực giáo dục.
Vai trò của giáo viên, chức năng nhiệm vụ của người giáo viên cũng luôn có sự thay đổi theo sự phát triển của kinh tế- xã hội. Nền giáo dục hiện đại đã và đang đặt ra những yêu cẩu mới đối với lo viên, theo đó, người giáo viên phải đảm nhận thêm những vai trò mới. Vai trò người giáo viên ngoài day học và giáo dục còn là người hướng dẫn, tư vấn tâm “Chương 1. Người giáo viên trong nhà trường phố thông 27 Hoạt động 1: Tìm hiểu phẩm chất người giáo viên Mục tiêu: 'Sinh viên nắm vững và phân tích được các phẩm chất của người giáo viên.
Thời gian: — |15 phút. Phương pháp: |Chia nhóm theo sở thích, động não, thảo luận, kĩ thuật |khăn trai bàn. Nguyên liệu: - |Giấy A0,bút màu. Cách tiến hành: |- Giảng viên phát cho mỗi nhóm sinh viên 01 tờ A0 và bút màu.
Bước 1 |- Giảng viên chia lớp ra thành các nhóm nhỏ theo sở thích màu sắc: màu "xanh, màu vàng, màu đỏ. - Lớp sẽ được chia thành 3 nhóm sinh viên, nhỏm màu xanh, nhóm mẫu đỏ và nhóm mầu vàng. Mỗi nhóm từ 6 - 8 sinh viên. - Giảng viên yêu cẩu các sinh viên ngéi lại theo từng nhóm.
Bước 2 |- Giảng viên chiếu video: Có giáo từng cao trong tuyển tập các câu chuyện. Qua tặng cuộc sống.