phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng, 7 tiết. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÕ CỦA TÔN GIÁO TRONG XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 1. Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu 1. Khái niệm tôn giáo và đoàn kết dân tộc Khi nghiên cứu về tôn giáo, phần lớn các học giả đều có cùng quan điểm cho rằng nó là một khái niệm hết sức phức tạp, có thể tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau để đƣa ra một định nghĩa, một khái niệm phù hợp với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của mình.
Chính vì vậy, rất khó để có một tiếng nói chung, một định nghĩa chung nhất về tôn giáo là gì mang tính phổ quát mà tất cả các lĩnh vực khoa học nghiên cứu về tôn giáo đều có thể sử dụng. Tuy nhiên, trong luận văn này, chúng tôi không đi sâu phân tích tất cả các khái niệm, định nghĩa khác nhau về tôn giáo mà chỉ tập trung làm rõ khái niệm tôn giáo đƣợc tiếp cận từ góc độ của nghiên cứu Tôn giáo học, xem xét tôn giáo nhƣ một hiện tƣợng xã hội nảy sinh từ rất sớm trong lịch sử phát triển của loài ngƣời, dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích khái niệm này nhằm nhận thức đúng về tôn giáo, giúp Đảng, Nhà nƣớc có chính sách thích hợp hơn, những ngƣời làm công tác tôn giáo ở các địa phƣơng sẽ thực hiện tốt chính sách này, góp phần tập hợp đƣợc tất cả các lực lƣợng xã hội thực hiện mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới đất nƣớc. “Theo nghĩa rộng, tôn giáo là một hiện tƣợng xã hội, một hình thái ý thức xã hội, gồm những quan niệm dựa trên cơ sở niềm tin và sùng bái những lực lƣợng siêu nhiên quyết định số phận con ngƣời, con ngƣời phải phục tùng tôn thờ” [66;1112] “Tôn giáo là sự tin tƣởng và sùng bái sức mạnh siêu phàm của thần linh, bắt đầu xuất hiện từ cuối công xã nguyên thủy, lúc đầu có hình thức sơ 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khai, gọi là tôn giáo nguyên thủy, sùng bái tự nhiên nhƣ bái vật giáo, thờ thần lửa, sinh thực khí, thờ Tô tem, sau đó phát triển thành đa thần giáo, nhất thần giáo và thành tôn giáo quốc tế”[65; 254]. Theo nghĩa hẹp, tôn giáo là hiện tƣợng xã hội mang tính lịch sử, bao gồm ý thức về lực lƣợng siêu nhiên, tổ chức, hoạt động tôn thờ lực lƣợng siêu nhiên mà sự tồn tại và phát triển của nó là do sự phản ánh hƣ ảo hiện thực khách quan vào đầu óc con ngƣời [58;15].
Theo tác giả Vƣơng Hoàng Trù [65], đối với các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác tuy không coi tôn giáo là đối tƣợng nghiên cứu chủ yếu của mình nhƣng khi xây dựng nên học thuyết cho cuộc đấu tranh của phong trào công nhân quốc tế đã quan niệm, nhận thức sâu sắc về tôn giáo. Một số đánh giá, nhận xét của C.Ăngghen về tôn giáo về sau này đƣợc những ngƣời kế thừa sự nghiệp của các ông và những nhà nghiên cứu lấy Chủ nghĩa Mác – Lênin làm kim chỉ nam coi đó là nòng cốt trong lý luận về tôn giáo. Cũng có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, C.Ăngghen chƣa bao giờ đƣa ra định nghĩa về hình thái ý thức xã hội này nhƣng một số nhận xét của các ông sau đây đƣợc coi là những định nghĩa về tôn giáo. Đó là nhận xét của C.Mác trong Lời nói đầu cho tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel đƣợc viết vào cuối năm 1843 đầu năm 1844: “Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự tri giác của con ngƣời chƣa tìm thấy bản thân mình hoặc đã lại đánh mất bản thân mình một lần nữa” [11;14]; “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng nhƣ nó là tinh thần của những điều kiện xã hội không có tinh thần.
Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”[12;267];. Một nhận xét của Ph.Ăngghen trong tác phẩm Chống Duhing đƣợc viết từ năm 1876 cũng đƣợc xem là một trong những định nghĩa về tôn giáo: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hƣ ảo vào trong đầu óc của con ngƣời – của những lực lƣợng bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lƣợng trần thế đã mang hình thức của những lực lƣợng siêu trần thế”[12; 437]. Các học giả phƣơng Tây cũng đƣa ra một số định nghĩa về tôn giáo đáng chú ý nhƣ: “Tôn giáo là một hệ thống biểu tƣợng, những biểu tƣợng này tạo nên những cảm xúc và những động cơ mãnh liệt, lan toả và kéo dài ở con ngƣời bằng cách tạo lập nên những quan niệm về một trật tự chung của sự tồn tại và khoác cho những quan niệm cái vẻ của thực tế là những cảm xúc và động cơ dƣờng nhƣ là thực tại duy nhất”[65;14]. “Theo nghĩa rộng nhất, từ tôn giáo có nghĩa là sự trung tín với một tập hợp các niềm tin hay lời giảng dạy về những điều huyền bí về sự sống sâu xa nhất và khó hiểu nhất”[65;14].
Ở Việt Nam, khi nghiên cứu về tôn giáo, một số nhà nghiên cứu cũng đã đƣa ra quan niệm của mình về khái niệm tôn giáo. Đặng Nghiêm Vạn cho rằng: “Tôn giáo là một bộ phận văn hoá tinh thần mà con ngƣời cảm nhận những điều kiện của thế giới vô hình rút ra từ xã hội và tự nhiên mà họ đang sống, tác động hƣ ảo vào sinh hoạt đời thƣờng và “cuộc sống thế giới bên kia”, theo cách suy nghĩ của nền văn hoá đang chi phối họ”[81;14-15]. Qua những định nghĩa trên cho thấy các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác cũng nhƣ các nhà nghiên cứu tôn giáo đã đứng trên quan điểm Mác xít do hƣớng tới mục tiêu là cách mạng xã hội nên nhận thức về tôn giáo có xu hƣớng thiên về triết học, nhân học và xã hội học. Bên cạnh khái niệm về tôn giáo, khái niệm dân tộc và đại đoàn kết dân tộc cũng là nội dung cần làm rõ trong luận văn này.
Khái niệm dân tộc, theo T điển luật học [8;1124] “Dân tộc (tộc ngƣời, ethnie) là hình thái đặc thù của một tập đoàn ngƣời, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, đƣợc phân biệt bởi 3 đặc trƣng cơ bản là ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hàng nghìn năm lịch sử; ví dụ: dân tộc (hay tộc ngƣời) Việt, dân tộc (hay tộc ngƣời) Tày, dân tộc (hay tộc ngƣời) Khơ Me. Hình thức và trình độ phát triển của tộc ngƣời phụ thuộc vào các thể chế xã hội ứng với các phƣơng thức sản xuất. Dân tộc đặc trƣng bởi sự cộng đồng bền vững và chặt chẽ hơn về kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ, các đặc điểm về văn hóa và ý thức tự giác tộc ngƣời”[8; 1124]. Khái niệm đoàn kết, đại đoàn kết Theo từ điển tiếng Việt, “Đoàn kết là đồng lòng, kết hợp thành khối, thành nhóm chặt chẽ”[66;237].
Đoàn kết có thể hiểu một cách đơn giản “là sự tập hợp, kết thành một khối thống nhất, cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó. Còn đại đoàn kết là đoàn kết rộng rãi tức muốn nhấn mạnh tới thành phần, quy mô, lực lƣợng của khối đoàn kết”[48;2449]. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng định nghĩa về khái niệm đại đoàn kết: “Đại đoàn kết tức là trƣớc hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết.
Nó cũng nhƣ cái nền của nhà, cái gốc của cây. Nhƣng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác”[47;119]. Đại đoàn kết dân tộc, đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, toàn dân tộc ta đoàn kết. Đƣợc diễn đạt theo các ngôn từ khác nhau nhƣng đều mang nghĩa thống nhất là sự tập hợp của đại đa số quần chúng nhân dân thuộc mọi thành phần, tầng lớp xã hội, không kể địa vị, quyền lực, chính trị, giai cấp trong cùng một khối thống nhất.
Khái niệm “đoàn kết tôn giáo” đƣợc hiểu là các tôn giáo cùng kết thành một khối thống nhất, cùng hoạt động vì một mục đích chung. Ở Việt Nam, 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vấn đề tôn giáo và dân tộc luôn có mối quan hệ khăng khít, gắn bó chặt chẽ với nhau. Đồng bào tôn giáo cũng là công dân của đất nƣớc, dân tộc[56]. Đất nƣớc ta vốn là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, trong mọi hoàn cảnh của lịch sử, từ truyền thống của cha ông ta cho đến nay, vấn đề đoàn kết tôn giáo luôn đƣợc đặt ra gắn với sự đồng hành cùng dân tộc.
Đặc biệt, từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc luôn lấy phƣơng châm thực hiện nhất quán quan điểm tự do tín ngƣỡng tôn giáo để góp phần tạo ra sự đồng thuận xã hội, khuyến khích đồng bào các tôn giáo gắn bó trong khối đại đoàn kết dân tộc, cùng chung sức, đồng lòng đóng góp cho sự nghiệp giải phóng đất nƣớc và xây dựng, phát triển xã hội, bảo vệ non sông, Tổ quốc. Chính sách đại đoàn kết dân tộc, đặc biệt là đoàn kết tôn giáo vì lợi ích của quốc gia luôn đƣợc Đảng, Nhà nƣớc ta đặc biệt quan tâm trong quá trình điều hành, lãnh đạo đất nƣớc vì mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Mối quan hệ giữa tôn giáo và đoàn kết dân tộc, vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc Tôn giáo có vai trò quan trọng trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc không chỉ trên các lĩnh vực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hoá cộng đồng các dân tộc, tôn giáo còn thực hiện vai trò gắn kết cộng đồng, cùng với Đảng và Nhà nƣớc chăm lo đời sống cho đồng bào các dân tộc, tham gia xây dựng hệ thống chính quyền cơ sở các cấp ở địa phƣơng, vận động quần chúng, củng cố quốc phòng an ninh, và thúc đẩy thực hiện công tác xã hội cộng đồng, bảo vệ môi trƣờng… Tôn giáo và dân tộc là hai mặt thống nhất của xã hội, ở Việt Nam, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề này.