Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC PHÁP CHẾ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC THUỘC TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Khái quát chung về Pháp chế xã hội chủ nghĩa 1. Khái niệm Pháp chế xã hội chủ nghĩa Khái niệm pháp chế XHCN là một khái niệm khoa học được hình thành trong nền khoa học pháp lý XHCN. Ở nước ta, pháp chế XHCN không chỉ được quan tâm về khái niệm mà đã trở thành nguyên tắc chỉ đạo trong hoạt động lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Để đưa ra khái niệm pháp chế XHCN một cách tương đối hoàn chỉnh chúng ta cần tiếp cận ở các phương diện khác nhau. Thứ nhất: cùng tìm hiểu quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề này. Trong Bộ Tư Bản, C.Mác không trực tiếp bàn đến pháp chế nhưng khi nghiên cứu quan hệ giữa Nhà nước và công dân trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa C.Mác cho rằng: “pháp chế là một chế độ tuân thủ pháp luật trong thực tiễn” [16] C.Mác đã khái quát “pháp chế là một chế độ thực hiện pháp luật của mọi tổ chức và công dân” [16] Ph.ăngghen, trong tác phẩm “Bàn về vấn đề nhà ở” đã luận về pháp chế như sau: Ở một giai đoạn rất cổ xưa nào đấy của sự phát triển xã hội, nhu cầu làm cho người ta thấy cần phải tập hợp dưới một quy tắc chung. Những hành vi sản xuất, phân phối và trao đổi sản phẩm tái diễn hàng ngày cần phải làm thế nào để mọi người phục tùng những điều kiện chung về sản xuất, trao đổi.
Quy tắc đó thoạt tiên là thói quen sau đó trở thành pháp luật. Có pháp luật thì những cơ quan có nhiệm vụ duy trì pháp luật đó tất phải xuất hiện: quyền lực công, Nhà nước. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong tiến trình phát triển sau này của xã hội, pháp luật phát triển thành pháp chế ít nhiều rộng rãi. Pháp chế càng phức tạp bao nhiêu thì thuật ngữ của nó càng xa rời thuật ngữ biểu hiện những điều kiện kinh tế thông thường của xã hội bấy nhiêu.
Lúc đó pháp chế xuất hiện như một nhân tố độc lập mà lý do tồn tại và cơ sở của sự tiến triển này không xuất phát từ những điều kiện kinh tế mà từ chính những nguyên nhân sâu sắc của bản thân. “Pháp chế là hiện tượng xã hội độc lập với tư cách là nhân tố của quyền lực chính trị” [15] Pháp trị hay pháp chế là một chế độ chính trị của một nước dựa vào pháp luật để quản lý Nhà nước và điều hành xã hội. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật là phương pháp pháp trị của Nhà nước pháp quyền. Phát triển quan điểm pháp chế của C.Lê-nin đã đề cập đến tư tưởng pháp chế XHCN trong một số tác phẩm tiêu biểu sau: “Bàn về chế độ song trùng trực thuộc và pháp chế”, “Sơ thảo đề cương nghị quyết về tuân thủ pháp luật”… [22].Lê-nin là người đầu tiên đưa ra các luận điểm cơ bản về pháp chế XHCN và các nguyên tắc của nó làm giàu thêm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin về Nhà nước và pháp luật.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin qua các tác phẩm của mình đã quan niệm pháp chế XHCN là một hiện tượng xã hội tồn tại, vận động theo các nguyên lý sau: - Pháp chế là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị, kinh tế - xã hội trong đó mọi thành viên quan hệ với nhau theo pháp luật. - Pháp chế là một nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Nhà nước XHCN. - Pháp chế là một phương pháp quản lý Nhà nước, phương pháp thực hiện những nhiệm vụ chuyên chính giai cấp, một bộ phận cấu thành của nền dân chủ chân chính. - Pháp chế có quan hệ chặt chẽ với dân chủ, như là một bộ phận của nền dân chủ XHCN.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Pháp chế có mối liên hệ chặt chẽ với văn hóa, với ý thức tôn trọng, xử sự bằng pháp luật, niềm tin vào giá trị, tác dụng của pháp luật đối với người dân, đối với đất nước. Thứ hai: Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về pháp chế XHCN. Ý tưởng xây dựng một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân và tăng cường pháp chế đã được Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta quan tâm chú trọng từ rất lâu. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam, năm 1919 Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) đã nói lên tiếng nói của các dân tộc thuộc địa trong đó có dân tộc Việt Nam.
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ ba và các văn kiện Đại hội sau này Đảng ta đều coi pháp chế XHCN là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước. Muốn nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý Nhà nước và phát huy dân chủ XHCN phương pháp chủ yếu, tổng thể, toàn diện và thường xuyên là tăng cường pháp chế XHCN. Ở nước ta, thuật ngữ pháp chế đang được sử dụng với những nội dung khác nhau. Tùy từng cách tiếp cận mà các tác giả đưa ra những quan niệm khác nhau về pháp chế.
Nếu tiếp cận pháp chế ở phạm vi hẹp nhấn mạnh yếu tố tiền đề, yếu tố cơ sở của pháp chế thì quan niệm pháp chế là pháp luật trong cuộc sống của nó. Pháp chế được coi như sự đòi hỏi về sự tuân thủ và thực hiện pháp luật trong sự đề cao đòi hỏi, yêu cầu phải tuân thủ, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật từ phía các chủ thể pháp luật. Nếu tiếp cận pháp chế ở phương diện tương đối rộng lớn thì sẽ có cách quan niệm: “Pháp chế là một chế độ đặc biệt trong đời sống chính trị - xã hội, trong đó tất cả các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhân viên nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách triệt để và chính xác” [21]. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một số học giả lại quan niệm pháp chế là “Pháp luật” nhưng không phải là pháp luật trên giấy mà là pháp luật ở trạng thái tác động vào đời sống xã hội “Pháp luật đang sống” [11].
Trong các văn bản pháp luật, pháp chế thường được coi là một nguyên tắc rất quan trọng cần phải tuân thủ trong tính chất và hoạt động của bộ máy Nhà nước, công chức Nhà nước, trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế và trong hoạt động hàng ngày, hàng giờ của mỗi công dân. Điều 12, Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế XHCN” [15]. Việc đề cao pháp chế, không ngừng tăng cường pháp chế theo Hiến pháp 1992 là vấn đề có tính quy luật, thường xuyên chứ không phải là đòi hỏi có tính phong trào. Và hơn thế pháp chế đã trở thành một nguyên tắc không thể thiếu để bảo đảm sự vận hành bình thường của bộ máy Nhà nước và của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội.
Nếu Pháp luật là ý chí của người dân được nâng lên thành luật xuất phát từ nhu cầu và điều kiện thực tại của xã hội thì pháp chế là việc đưa ý chí đó vào đời sống, trở thành hiện thực, và có sức mạnh vật chất. Ở nước ta có một số tác giả đưa ra khái niệm về pháp chế: Pháp chế là sự hiện diện của một hệ thống pháp luật cần và đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội, làm cơ sở cho sự tồn tại của một trật tự pháp luật; là sự tuân thủ và thực hiện đầy đủ pháp luật trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, của cơ quan, đơn vị, tổ chức và mọi công dân [24]. Pháp chế XHCN là sự tôn trọng và thực hiện pháp luật XHCN một cách tự giác, nghiêm chỉnh, đầy đủ, thống nhất thông qua những hành vi tích cực của tất cả các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân và kết quả hiện thực 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của sự tôn trọng và thực hiện pháp luật ấy trong bộ máy Nhà nước và ở ngoài xã hội [12]. Như vậy, pháp chế đồng nghĩa với yêu cầu thể chế hóa các nhu cầu quản lý xã hội.
Chính trên nền tảng cơ sở này mà pháp luật mới có được giá trị to lớn với tư cách là hình thức tồn tại của các cơ cấu, tổ chức xã hội, các thiết chế Nhà nước. Qua việc phân tích các góc độ khác nhau, các quan điểm khác nhau về pháp chế cho thấy pháp chế là cơ sở cho việc ra đời quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ tăng cường, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vai trò của pháp chế XHCN Pháp chế XHCN là chế độ của đời sống chính trị - xã hội trong đó Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật; các cơ quan Nhà nước, các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội- nghề nghiệp, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế và công dân đều phải tôn trọng và thực hiện Hiến pháp, pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác. Mọi vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo pháp luật.
Pháp luật chỉ có thể phát huy hiệu lực của mình, điều chỉnh một cách có hiệu lực các quan hệ xã hội khi dựa trên cơ sở vững chắc của nền pháp chế. Thực hiện pháp chế XHCN đất nước ta không ngừng phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được ổn định, ấm no, hạnh phúc. Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường luôn cần có sự quản lý Nhà nước bằng pháp luật. Nền kinh tế thị trường một mặt đem lại những lợi ích cho xã hội, mặt khác cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế - xã hội phức tạp cần phải sử dụng pháp luật là công cụ chủ yếu, đòi hỏi các chủ thể liên quan cần 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, ngăn chặn, loại trừ các hành vi vi phạm pháp luật.