Chương 1: Những vấn đề lý luận về vai trò của Thanh tra Bộ Tư pháp trong quản lý nhà nước về thi hành án dân sự. Chương 2: Thực trạng và giải pháp bảo đảm vai trò của Thanh tra Bộ Tư pháp trong quản lý nhà nước về thi hành án dân sự. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA THANH TRA BỘ TƢ PHÁP TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Thi hành án dân sự và quản lý nhà nƣớc về thi hành án dân sự 1.
Định nghĩa thi hành án dân sự Hiện nay, dựa trên các quan điểm, nhận thức pháp luật khác nhau, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu luật học đã đưa ra hai quan niệm cơ bản về hoạt động thi hành án dân sự; cụ thể như sau: Quan niệm thứ nhất cho rằng, thi hành án là một giai đoạn của tố tụng, vì: “Có xét xử thì phải có thi hành án, thi hành án dựa trên cơ sở của của công tác xét xử. Xét xử và thi hành án là hai mặt thống nhất của quá trình bảo vệ lợi ích của đương sự” [2, tr. Quan điểm này thừa nhận “không phải mọi hoạt động trong quá trình thi hành án và quyết định của tòa án đều nằm trong phạm vi điều chỉnh của Luật tố tụng.” nhưng lại cho rằng thi hành án “thực chất là hoạt động tố tụng của tòa án, của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nhằm bảo đảm cho bản án và quyết định của tòa án được thi hành một cách chính xác, kịp thời” [53, tr. Hoạt động thi hành án dân sự được coi là một giai đoạn tố tụng dân sự, là giai đoạn tiếp theo của hoạt động xét xử để đảm bảo Bản án và Quyết định của Tòa án được thi hành kịp thời và đúng pháp luật.
Tương tự như các hoạt động điều tra, truy tố và xét xử, hoạt động thi hành án dân sự hướng đến mục tiêu chung là bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp cho nhà nước và nhân dân. Do vậy, tuy được đặt trong hệ thống cơ quan hành chính nhưng xét về bản chất, cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đối lập với quan điểm thứ nhất, quan niệm thứ hai lại cho rằng, thi hành án là hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước. Theo quan niệm này thì tố tụng là quá trình tiến hành giải quyết các vụ án theo quy định của pháp luật; quá trình này trải qua nhiều giai đoạn nhưng các giai đoạn có liên quan mật thiết với nhau trong thể thống nhất và xét xử là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng cho nên bản án, quyết định của toà án là kết quả cuối cùng đánh dấu sự kết thúc của quá trình tố tụng [2, tr.
Hay nói cách khác, theo quan điểm thứ hai, thi hành án dân sự là hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, có bản chất là hoạt động hành chính - tư pháp vì những lý do sau [2, tr.43-44]: - Thứ nhất, tố tụng nói chung và tố tụng dân sự nói riêng về bản chất là việc áp dụng các trình tự, thủ tục luật định để xác minh sự thật của các sự kiện đã diễn ra trên thực tế và giải quyết vụ việc nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước và của các cá nhân, tổ chức khác. Trong khi đó, thi hành án dân sự chỉ đơn thuần là quá trình tiến hành các hoạt động nghiệp vụ nhằm thực hiện các Bản án và Quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Bên cạnh đó, quá trình thi hành án dân sự tôn trọng sự thỏa thuận, tự nguyện thi hành án của các đương sự. Cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên trực tiếp tổ chức thi hành chỉ thực hiện quyền lực nhà nước khi các bên đương sự không tự nguyện thi hành.
Vì vậy, có thể nói rằng quá trình tố tụng là quá trình đi tìm sự thật để áp dụng pháp luật; còn thi hành án là quá trình có sự xen kẽ giữa việc chấp hành pháp luật và áp dụng pháp luật. - Thứ hai, trong lĩnh vực thi hành án dân sự có sự xen kẽ giữa các quan hệ mang tính chất tố tụng và quan hệ mang tính hành chính - tư pháp nhưng các quan hệ mang tính chất hành chính - tư pháp chiếm tỷ lệ cao hơn. Ngoài ra, việc tổ chức thi hành án là hoạt động của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền nhưng ở một số lĩnh vực Nhà nước có thể ban hành các quy định 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com để xã hội hóa hoạt động này. Các hoạt động liên quan đến lĩnh vực thừa phát lại là ví dụ cụ thể cho luận điểm này.
Đây cũng chính là một điểm khác biệt cơ bản so với hoạt động tố tụng nói chung bởi hoạt động tố tụng mang tính chất quyền lực nhà nước thuần túy. Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh, Thừa phát lại được làm những công việc sau đây: 1. Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc Cơ quan thi hành án dân sự; 2. Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức; 3.
Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự; 4. Trực tiếp tổ chức thi hành án các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự. Thừa phát lại không tổ chức thi hành án các bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án. Trên sự ghi nhận của Quốc hội về kết quả đạt được trong việc thực hiện chế định thừa phát lại tại Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội và sự phân công của Chính phủ, Bộ Tư pháp hiện đang xây dựng Nghị định về tổ chức và hoạt động thừa phát lại.
Điều 3 Dự thảo Nghị định quy định về các công việc thừa lại được làm bao gồm: 1. Tống đạt theo yêu cầu của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự các cấp, đương sự trong vụ việc dân sự, hành chính, cơ quan nhà nước và các tổ chức hành nghề bổ trợ tư pháp trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại; tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến hoạt động tương trợ tư pháp theo quy định của pháp luật; 2. Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức; 3. Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; 4.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự. Thừa phát lại không tổ chức thi hành án các bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. - Thứ ba, theo quy định của pháp luật hiện hành, cơ quan thi hành án dân sự áp dụng các trình tự, thủ tục về thi hành án dân sự không chỉ đối với các Bản án, Quyết định của Tòa án nhân dân mà còn bao gồm cả Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và Quyết định của Trọng tài thương mại. Tóm lại, mỗi quan điểm về thi hành án dân sự nêu trên đều có những cơ sở khoa học và hạt nhân hợp lý riêng.
Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân của mình, tôi cho rằng quan điểm thứ hai là hợp lý hơn cả; thi hành án dân sự không chỉ là hoạt động hành chính hay tư pháp đơn thuần cũng không phải là một giai đoạn của quá trình tố tụng. Xét về bản chất, thi hành án dân sự nên được coi là hoạt động hành chính - tư pháp. Từ những căn cứ nêu trên, theo quan điểm cá nhân của tác giả: thi hành án dân sự là hoạt động hành chính - tư pháp do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định nhằm đảm bảo Bản án, Quyết định của Tòa án hoặc các quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền được thực thi trên thực tế. Đặc trưng cơ bản của hoạt động thi hành án dân sự - Thứ nhất, trong hoạt động thi hành án dân sự luôn luôn tồn tại ba chủ thể bắt buộc; bao gồm: cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên trực tiếp tổ chức thi hành và các đương sự.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thi hành án dân sự năm 2014, đương sự bao gồm người được thi hành 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com án, người phải thi hành án và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan. Trong quan hệ này, cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên là những chủ thể thực hiện quyền lực Nhà nước, có quyền áp dụng các biện pháp luật định để đảm bảo các Bản án, Quyết định được thực thi trên thực tế một các nghiêm chỉnh nhất nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước; quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. - Thứ hai, trong hoạt động thi hành án dân sự, tính chủ động, độc lập của Chấp hành viên trong quá trình tác nghiệp cũng được đề cao và tôn trọng. Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chấp hành viên tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật và được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm.
Kể từ thời điểm được phân công tổ chức thi hành án, Chấp hành viên có quyền chủ động đối với phần lớn các hoạt động nghiệp vụ của mình trừ một số việc thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự như: ban hành quyết định ủy thác, quyết định trả đơn, đình chỉ, tạm đình chỉ, hoãn thi hành án. - Thứ ba, trong một chừng mực nhất định thi hành án dân sự là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước.