Chương 1 GVHD: TS. Trương Minh Chương - Mục 2: trình bày các khái niệm, tổng quan các mô hình nghiên cứu đã công bố, cơ sở lý thuyết hỗ trợ giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu, công cụ thu thập dữ liệu và phương pháp, công cụ phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày kết quả phân tích dữ liệu để kiểm chứng các thang đo, kiểm chứng mô hình nghiên cứu đề xuất.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Chương này trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, những đóng góp, những hạn chế và định hướng phát triển của đề tài. Học viên: Nguyễn Hoàng Thủy Tiên 6 Luận văn thạc sĩ – Chương 2 GVHD: TS. Trương Minh Chương CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng quan về doanh nghiệp năng lượng tái tạo Việt Nam 2.
Tổng quan và tiềm năng năng lượng tái tạo ở Việt Nam 2. Tổng quan: Việt Nam là một trong những nước Đông Nam Á đang có tốc độ tăng trưởng GDP nhanh, từ 6,5 -7 % hằng năm, kéo theo nhu cầu năng lượng dự báo tăng trung bình 11%/năm. Bối cảnh này tạo ra nhiều cơ hội mới trong ngành năng lượng, đặc biệt là năng lượng tái tạo nhằm đảm bảo phát triển bền vững trong tương lai. Theo Quy hoạch Phát triển điện lực quốc gia, Việt Nam cần đạt tỉ lệ năng lượng tái tạo 15-20% vào 2030 và 20-30% vào 2045.
Hiện tại ở Việt Nam, nhiệt điện than và thủy điện là hai nguồn cung cấp năng lượng chính vì cho ra nguồn điện ổn định và giá thành phù hợp. Nhu cầu sử dụng điện ngày càng cao; trong khi giới hạn về trữ lượng và khả năng khai thác các nguồn năng lượng nội địa như than, dầu, khí đốt; dẫn tới việc chúng ta vẫn phải nhập khẩu than, khí đốt và các sản phẩm dầu, điện từ các nước láng giềng như Lào, Trung Quốc, Campuchia. Việc phụ thuộc quá nhiều vào các nguồn năng lượng hóa thạch sẽ không đảm bảo an ninh năng lượng bền vững trong tương lai vì nguồn tài nguyên sẽ cạn kiệt dần. Đồng thời, môi trường và sức khỏe của con người cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi quá trình khai thác và sử dụng những nguồn khoáng sản này.
Vì vậy, việc chuyển dịch sang đầu tư vào năng lượng tái tạo, dựa trên nhiều lợi thế về địa lý và thiên nhiên, sẽ giúp cho Việt Nam chủ động hơn trong việc đảm bảo nguồn năng lượng phục vụ cho phát triển kinh tế. Các nguồn năng lượng điện khả thi phát triển ở thị trường Việt Nam hiện nay như sau: Hình 2. Các loại năng lượng điện ở thị trường Việt Nam (Nguồn: Quy hoạch phát triển điện VIII) Học viên: Nguyễn Hoàng Thủy Tiên 7 Luận văn thạc sĩ – Chương 2 GVHD: TS. Trương Minh Chương Tính đến năm 2020, tỷ trọng của các nguồn năng lượng toàn quốc như sau: Hình 2.
Các loại năng lượng điện ở thị trường Việt Nam (Nguồn: Quy hoạch phát triển điện VIII) Trong đó, tỷ lệ nguồn thủy điện và nhiệt than chiếm cao nhất. Nhờ vào chính sách hỗ trợ của nhà nước, các dự án năng lượng tái tạo đã và đang tăng nhanh và vươn đến gần vị trí dẫn đầu, với tổng tỷ trọng là 26. Ngoài ra, Việt Nam đang tích cực thực hiện để đạt được net-zero trong năm 2050. Để đạt được điều đó, tất cả các kịch bản phải tính đến các mục tiêu chuyển đổi năng lượng theo các nguyên tắc sau: - Nhiệt điện than: Tiếp tục thực hiện các dự án đã được phê duyệt trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh và đang triển khai xây dựng đến năm 2030.
Tái sử dụng các nhà máy nhiệt điện đã vận hành 20 năm bằng sinh khối/amoniac với chi phí hợp lý. Đóng cửa các nhà máy nhiệt điện có tuổi thọ trên 40 năm nếu không thể tái sử dụng. - Điện LNG: Không phát triển nguồn điện LNG sau năm 2035. Các nhà máy điện khí mới phải chuyển đổi dần sang hydro (hoặc tăng tốc độ đốt cháy hydro) và Học viên: Nguyễn Hoàng Thủy Tiên 8 Luận văn thạc sĩ – Chương 2 GVHD: TS.
Trương Minh Chương chuyển hoàn toàn sang sử dụng hydro khi công nghệ được thương mại hóa và giá thành hợp lý. - Điện khí trong nước: Ưu tiên khai thác, sử dụng toàn bộ nguồn khí trong nước để phát điện đảm bảo độc lập về điện, kết hợp với đốt hydro khi cần thiết. - Năng lượng tái tạo: Đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo (thủy điện, điện gió trên bờ và ngoài khơi, điện mặt trời, điện sinh khối, …), các nguồn năng lượng mới, năng lượng sạch (thủy điện, amoni xanh, …) phù hợp với an toàn hệ thống, với điều kiện giá điện hợp lý, nhất là nguồn điện tự sản xuất và tự tiêu. Tiềm năng phát triển ngành năng lượng tái tạo: Phát triển nguồn năng lượng tái tạo là xu thế tất yếu trên thế giới hiện nay.
Ngành năng lượng toàn cầu có xu hướng dịch chuyển tích cực với các nguồn “năng lượng xanh”. Việt Nam cũng thuộc danh sách các nước có tiềm năng lớn để đầu tư thêm các nguồn năng lượng tái tạo mới như điện mặt trời, điện gió, điện sinh khối, điện song biển và khí sinh học Biogas bên cạnh các nguồn năng lượng sẵn có như điện khí tự nhiên hóa lỏng LNG (Liquefied Natural Gas), thủy điện và điện than. - Vị trí địa lý thuận lợi. Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3260 km, với tốc độ gió trung bình 7 m/s.
Các tỉnh Tây Nguyên, Nam Bộ và Nam Trung bộ có bức xạ mặt trời cao trung bình 1. Đây là lợi thế tự nhiên tạo ra sức hút lớn về đầu tư vào điện gió và điện mặt trời ở các tỉnh này. Bên cạnh lợi thế về gió, bức xạ mặt trời thì với diện tích rừng lớn, chỉ riêng tại Cà Mau, lượng khai thác và các chế phẩm từ gỗ đạt khoảng 225.000 tấn/năm cũng là tiềm năng lớn để phát triển điện sinh khối. - Lĩnh vực được các nhà đầu tư quan tâm.
Trong những năm gần đây, năng lượng tái tạo là một trong những lĩnh vực được ưu tiên nhất cho đầu tư ở Việt Nam. Dự tính đến 2030, Việt Nam sẽ cần 12 tỷ USD để đầu tư nguồn điện mới. Năm 2021, Việt Nam xếp hạng thứ 31 trong danh sách các quốc gia có độ thu hút cao về các cơ hội đầu tư và triển khai trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Đồng thời, cùng với chính sách khuyến khích năng lượng tái tạo, trong ba năm vừa qua, các dự án khai thác điện gió, điện mặt trời đã phát triển rất mạnh ở các tỉnh ven biển miền Học viên: Nguyễn Hoàng Thủy Tiên 9 Luận văn thạc sĩ – Chương 2 GVHD: TS.
Trương Minh Chương Trung và miền Nam. Tổng vốn đầu tư FDI vào lĩnh vực sản xuất, phân phối điện là trên 5, 1 tỷ USD trong năm 2020, cao hơn 4 lần so với năm trước đó. - Chi phí xây dựng lắp đặt ngày càng giảm. Chi phí sản xuất điện quy dẫn (LCOE) đối với điện mặt trời tại Việt Nam đã giảm 106% trong vòng bốn năm trở lại đây.
Dự kiến đến năm 2022, đầu tư vào điện gió trên đất liền sẽ rẻ hơn đầu tư vào nhà máy nhiệt điện than mới. Ngoài ra, Việt Nam cũng có thế mạnh về sản xuất và đã có những nhà máy chuyên sản xuất tấm quang năng. Đồng thời, sở hữu cơ sở hạ tầng và mạng lưới truyền tải vững chắc. Các hình thức kinh doanh doanh nghiệp trong lĩnh vực năng lượng: Từ khi chính sách khuyến khích các dự án năng lượng tái tạo như điện mặt trời, gió, … được ban hành trong hơn 03 năm trước, các công ty kinh doanh, đầu tư năng lượng thành lập rộng rãi và duy trì đến hiện nay theo các hình thức kinh doanh sau: - Doanh nghiệp là nhà đầu tư: bao gồm Quỹ đầu tư trong và ngoài nước.
Với những tiềm năng phát triển năng lượng của Việt Nam, trong những năm gần đây, các nguồn quỹ đầu tư nước ngoài đổ về Việt Nam và tham gia vào cuộc chiến năng lượng, tạo một thị trường điện cạnh tranh ở những bước đầu. Các công ty đầu tư lớn trên thị trường hiện nay như: GreenYellow Việt Nam (Pháp), SP Group (Singapore), SkyX (Vina Capital), … Các dự án năng lượng sẽ lắp đặt phù hợp và bán điện cho Điện lực Việt Nam hoặc bán điện trực tiếp cho khách hàng sử dụng. Học viên: Nguyễn Hoàng Thủy Tiên 10 Luận văn thạc sĩ – Chương 2 GVHD: TS. Trương Minh Chương Hình 2.
Tình hình đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo Việt Nam (từ FPT Digital, 2021) - Doanh nghiệp là nhà thầu thi công: Cùng với sự phát triển của các nhà đầu tư trong lĩnh vực năng lượng, các đơn vị tổng thầu xây dựng, hoặc thầu phụ được thành lập và phát triển mạnh mẽ, cũng có những doanh nghiệp từ những đơn vị trong ngành xây dựng và chuyển đổi sang lĩnh vực này, theo xu hướng của thị trường. - Doanh nghiệp là nhà cung cấp thiết bị: Đây là lĩnh vực đòi hỏi công nghệ tiên tiến và sự đổi mới không ngừng của các công nghệ thiết bị, để tạo ra các giải pháp mới, giải quyết các vấn đề năng lượng đã và đang gặp khó khăn. Với xu hướng phát triển, các nhà đầu tư luôn đòi hỏi những dòng công nghệ hiện đại và giá phải chăng, đòi hỏi các lãnh đạo doanh nghiệp là các đơn vị sản xuất thiết bị phải đẩy mạnh nghiên cứu và sáng tạo, tạo ra những giải pháp tối ưu. Đồng thời, họ phải tạo ra những công nghệ vượt trội để làm sự khác biệt, cạnh tranh với các đối thủ khác.
Một số đơn vị cung cấp như: Tấm pin quang điện (Longi, Risen, Canadian, …); Inverter (Huawei, SMA, …); Turbin gió (GE, Vestas, …). Thách thức và khó khăn của doanh nghiệp năng lượng tái tạo 2. Thách thức về chính sách Để khuyến khích, phục vụ các mục tiêu phát triển năng lượng tái tạo, Bộ Công Thương đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành hàng loạt các cơ chế như biểu giá cố định Feed-in-Tariff cho điện mặt trời, điện gió, điện sản xuất từ chất thải rắn, điện sinh khối… Chính phủ cũng ban hành chính sách ưu đãi khác cho các nhà đầu tư như ưu tiên cung cấp tín dụng, miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất, sử dụng PPA… Điển hình là năm 2019, 2020, Bộ Công Thương ban hành các thông tư bao gồm hợp đồng mua bán điện mẫu (PPA) cho điện mặt trời và quy định giá bán điện.