Luận án các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo quy trình nghiên cứu trong các doanh nghiệp phát điện việt nam

Chuyên đề nghiên cứu Nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp phát điện Việt Nam, cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao cho

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sỹ

2018

229
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

1.1. Lý do lựa chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu

1.4.1. Phương pháp nghiên cứu

1.4.2. Quy trình nghiên cứu

1.5. Những đóng góp mới của Luận án

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp phát điện Việt Nam

Đổi mới sáng tạo (đổi mới sáng tạo) là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp phát điện tại Việt Nam duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh. Theo Ancona và Caldwell (1987), trong bối cảnh kinh doanh biến đổi không ngừng, đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố sống còn cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Baldwin (1995) nhấn mạnh rằng đổi mới sáng tạo quyết định thành công của doanh nghiệp. Tại Việt Nam, mặc dù đã có những bước tiến trong đổi mới sáng tạo, nhiều doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào nguồn lực tự nhiên và nhân công giá rẻ. Để phát triển bền vững, doanh nghiệp cần chuyển hướng sang đổi mới sáng tạo dựa trên tri thức và công nghệ cao.

1.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến Đổi mới sáng tạo

Nghiên cứu cho thấy nhiều nhân tố tác động đến đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp phát điện, bao gồm tri thức, lãnh đạo, và đầu tư cho R&D. Các lý thuyết như lý thuyết học hỏi và lý thuyết quản trị tri thức đã được áp dụng để phân tích mối quan hệ giữa các nhân tố này và đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, phong cách lãnh đạo nghiệp chủ được xem là một yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến quyết định đầu tư cho đổi mới sáng tạo và kết quả kinh doanh. Nghiên cứu của Zmud (1984) và Phan (2015) chỉ ra rằng sự ủng hộ từ lãnh đạo cấp cao có tác động tích cực đến đổi mới sáng tạo quy trình.

1.2. Vai trò của Vốn trí tuệ trong Đổi mới sáng tạo

Vốn trí tuệ được coi là nguồn lực chiến lược quan trọng nhất của doanh nghiệp. Theo Teece (2007), vốn trí tuệ giúp doanh nghiệp xác định và nắm bắt cơ hội, từ đó tạo ra đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu cho thấy rằng vốn trí tuệ có tác động tích cực đến đổi mới sáng tạo và kết quả kinh doanh. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu các nghiên cứu về mối quan hệ giữa vốn trí tuệ và đổi mới sáng tạo quy trình, đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp phát điện tại Việt Nam.

1.3. Năng lực hấp thụ và Đổi mới sáng tạo

Năng lực hấp thụ là khả năng của doanh nghiệp trong việc nhận diện, thu nhận và áp dụng tri thức mới. Nghiên cứu của Murovec và Prodan (2009) cho thấy năng lực hấp thụ có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo quy trình. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào khía cạnh tiếp thu tri thức mà chưa xem xét đầy đủ các quá trình nội hóa và chuyển đổi tri thức. Do đó, việc nghiên cứu sâu hơn về năng lực hấp thụ trong mối quan hệ với đổi mới sáng tạo là cần thiết.

II. Mô hình nghiên cứu và phương pháp

Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết lãnh đạo cấp cao, lý thuyết tri thức tổ chức và lý thuyết học hỏi tổ chức. Mục tiêu chính là đánh giá tác động của phong cách lãnh đạo nghiệp chủ, vốn trí tuệ và năng lực hấp thụ đến đổi mới sáng tạo quy trình trong các doanh nghiệp phát điện Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính và định lượng để thu thập dữ liệu từ các doanh nghiệp, nhằm kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.

2.1. Phương pháp nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu với các cán bộ quản lý trong doanh nghiệp phát điện. Mục đích là xác định các yếu tố tác động đến đổi mới sáng tạo quy trình và đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng. Kết quả từ nghiên cứu định tính sẽ giúp điều chỉnh mô hình và thang đo trước khi tiến hành nghiên cứu định lượng.

2.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định lượng được thực hiện với 357 doanh nghiệp phát điện tại Việt Nam. Dữ liệu thu thập sẽ được phân tích bằng các phương pháp như kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích khám phá nhân tố và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM). Mục tiêu là đánh giá tính phù hợp của mô hình và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, từ đó xác định các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo quy trình.

III. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu chỉ ra rằng các nhân tố như phong cách lãnh đạo nghiệp chủ, vốn trí tuệ và năng lực hấp thụ có tác động đáng kể đến đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp phát điện Việt Nam. Để nâng cao hiệu quả đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp cần chú trọng phát triển năng lực lãnh đạo, đầu tư vào tri thức và cải thiện năng lực hấp thụ. Các khuyến nghị cụ thể bao gồm việc xây dựng các chương trình đào tạo cho lãnh đạo, tăng cường hợp tác với các tổ chức nghiên cứu và phát triển, và tạo ra môi trường khuyến khích đổi mới sáng tạo.

3.1. Khuyến nghị cho doanh nghiệp

Doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược đổi mới sáng tạo rõ ràng, tập trung vào việc phát triển năng lực lãnh đạo và đầu tư cho R&D. Cần tạo ra môi trường làm việc khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới, đồng thời tăng cường hợp tác với các tổ chức bên ngoài để thu hút tri thức và công nghệ mới.

3.2. Khuyến nghị cho chính sách

Chính phủ cần có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong việc phát triển đổi mới sáng tạo, bao gồm việc cung cấp các nguồn lực tài chính, tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu và phát triển, và khuyến khích hợp tác giữa doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu. Điều này sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành phát điện Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Giới thiệu chung về nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3. Phương pháp nghiên cứu 11 Chương 4.

Kết quả nghiên cứu về các nhân tố tác động đến đổi mới sáng tạo quy trình trong các doanh nghiệp phát điện Việt Nam Chương 5. Luận bàn về kết quả nghiên cứu và đề xuất một số kiến nghị để thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm đổi mới sáng tạo Trong môi trường kinh doanh không ngừng biến đổi như hiện nay, ĐMST là yếu tố rất quan trọng giúp các doanh nghiệp tồn tại, phát triển và duy trì lợi thế cạnh tranh (Ancona và Caldwell, 1987). Baldwin (1995) cho rằng ĐMST là yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp chỉ có thể đạt được kết quả tốt hơn đối thủ cạnh tranh nếu doanh nghiệp đó tạo ra được sự khác biệt về chất lượng hoặc giá cả hoặc cả về chất lượng và giá cả. Quintane và cộng sự (2011) cho rằng ĐMST là hiện tượng của tổ chức, được nghiên cứu từ rất sớm và đã được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau. ĐMST là một khái niệm khá rộng và có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau. Một trong những khó khăn đầu tiên trong nghiên cứu về ĐMST là thiếu một định nghĩa chuẩn về ĐMST.

Điểm chung của tất các các định nghĩa về ĐMST là một cái gì đó mới hoặc lạ thường. Bỏ qua việc định nghĩa rõ ràng về khái niệm ĐMST sẽ làm giảm sự hiểu biết về ĐMST và có thể làm giảm sự thành công trong việc thực hiện và phát triển ĐMST (Read, 2000). Thuật ngữ “đổi mới sáng tạo” được định nghĩa theo nhiều quan điểm khác nhau, hiện vẫn chưa có một định nghĩa chuẩn về ĐMST hoặc đo lường (Adams và cộng sự, 2006; Damanpour và Wischnevsky, 2006). Có nhiều định nghĩa về ĐMST cũng xuất phát từ bản thân khái niệm này có nhiều thuộc tính và khía cạnh khác nhau.

Nghiên cứu của Baregheh và cộng sự (2009) đã chỉ ra 6 thuộc tính của ĐMST gồm: (1) Bản chất của ĐMST, (2) các loại hình ĐMST, (3) các giai đoạn ĐMST, (4) bối cảnh xã hội của ĐMST, (5) phương tiện để ĐMST và (6) mục tiêu của ĐMST. Nghiên cứu của Ram và cộng sự (2010) đã chỉ ra 5 khía cạnh của ĐMST là (1) ĐMST là một cái gì đó mới, (2) ĐMST là chất xúc tác cho sự thay đổi, (3) ĐMST là yếu tố điều khiển giá trị, (4) ĐMST là phát minh và (5) ĐMST là một quá trình. Joseph Schumpeter là học giả đầu tiên đưa ra định nghĩa về ĐMST vào cuối những năm 1920 (Hansen và Wakonen, 1997). Các công trình nghiên cứu của Joseph Schumpeter có ảnh hưởng rất lớn đến các nghiên cứu về ĐMST sau này.

Từ những phát hiện và lý luận ban đầu của Joseph Schumpeter, khái niệm ĐMST đã dần được phát triển thêm và ngày càng thu hút được sự chú ý của cộng đồng nghiên cứu (Phan, 2017) 13 Một số định nghĩa về ĐMST của các nhà nghiên cứu được tác giả tổng hợp, thể hiện ở bảng 2.1 Các định nghĩa về đổi mới sáng tạo Tác giả Nội dung Schumpeter ĐMST là việc các công ty đưa ra một sản phẩm mới, một quy trình (1934) mới, một phương pháp sản xuất mới hoặc một hệ thống mới. ĐMST là một công cụ đặc thù của các chủ doanh nghiệp, là phương Drucker tiện mà họ khai thác sự thay đổi như là cơ hội cho một công việc kinh (1985) doanh hoặc một dịch vụ khác biệt. Acs và ĐMST là quá trình bắt đầu với một phát minh, sau đó thực hiện phát Audretsch triển phát minh, kết quả là đưa ra sản phẩm mới, quy trình mới hoặc (1988) dịch vụ mới ra thị trường Lundvall ĐMST là một quá trình liên tục từ bỏ, tìm kiếm và khám phá để tạo (1992) ra các sản phẩm mới, các kỹ thuật mới, các hình thức tổ chức mới và thị trường mới Phòng ĐMST là việc khai thác thành công các ý tưởng mới. Thương mại và công nghiệp nước Anh (1998) ĐMST là việc thực thi một sản phẩm (hàng hóa/dịch vụ) hoặc một quy trình mới hoặc được cải tiến đáng kể, một phương pháp marketing mới, hay một biện pháp mới mang tính tổ chức trong thực OECD (2005) tiễn hoạt động, trong tổ chức công việc hay trong quan hệ với bên ngoài Damanpour và ĐMST là sự phát triển và áp dụng ý tưởng mới hoặc hành vi mới Wischnevsky, trong tổ chức.

Ý tưởng mới có thể là một sản phẩm, dịch vụ hoặc (2006) phương pháp sản xuất mới (đổi mới kỹ thuật) hoặc là một thị trường, cơ cấu tổ chức hoặc hệ thống quản trị mới (đổi mới quản trị) 14 Fruhling và ĐMST có thể bao gồm bất kỳ một ý tưởng, hiện tượng, sự vật được Siau, (2007) coi là mới đối với một cá nhân hoặc đơn vị khác chấp nhận chúng ĐMST có nhiều cấp độ khác nhau, theo đó thì ĐMST khác nhau về Dibrell và mức độ phức tạp và nó có thể bao gồm từ những thay đổi nhỏ đối với cộng sự các sản phẩm, dịch vụ, quy trình hiện có cho đến thay đổi hoàn toàn (2008) các sản phẩm, dịch vụ, quy trình với các thuộc tính hoàn toàn mới hoặc tính năng hoạt động vượt trội ĐMST là một quá trình nhiều giai đoạn mà trong đó các tổ chức Baregheh và chuyển đổi các ý tưởng thành các sản phẩm mới hoặc cải tiến, dịch cộng sự, vụ mới hoặc cải tiến, quy trình mới hoặc cải tiến để vượt lên (2009) (advance), cạnh tranh (compete) và tạo sự khác biệt của họ thành công trên thị trường ĐMST là một quá trình qua đó một ý tưởng, đối tượng, thực tiễn, công nghệ, quy trình được tạo ra, phát minh lại, phát triển, khuếch tán, chấp nhận và sử dụng được tạo ra từ nội bộ hoặc lấy từ các tổ Ram và cộng chức bên ngoài. Quá trình này là mới hoặc được cải tiến một cách sự (2010) đáng kể, có tiềm năng tạo ra hoặc bổ sung giá trị cho đơn vị chấp nhận nó ĐMST là việc tạo ra hoặc áp dụng (adoption), nội hóa và khai thác Crossan và giá trị gia tăng mới lạ (value-added novelty) trong lĩnh vực kinh tế Apaydin, và xã hội, làm mới và mở rộng các sản phẩm, dịch vụ và thị trường, (2010) phát triển các phương pháp sản xuất mới và thiết lập hệ thống quản lý mới Theo Luật ĐMST là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công khoa học và nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã công nghệ hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, năm 2013 hàng hóa. (QH, 2013) Nguồn: Do tác giả tổng hợp Mặc dù có rất nhiều định nghĩa được các nhà nghiên cứu, tổ chức đề xuất, mỗi định nghĩa khai thác những khía cạnh (quá trình ĐMST hoặc kết quả ĐMST) hay những 15 thuộc tính khác nhau của ĐMST, nhưng những định nghĩa này đều có những điểm chung là “tính mới” trong quá trình, hoạt động hay kết quả. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng định nghĩa đề xuất bởi OECD (2005) vì nó bao quát toàn bộ hoạt động của một doanh nghiệp.

Hơn nữa, định nghĩa của OECD (2005) được lựa chọn bởi OECD là của một tổ chức uy tín, được nhiều quốc gia, nhà nghiên cứu trích dẫn và mang tính phổ quát cao (Stone và cộng sự, 2008; Thi Thuc Anh, 2014; Nguyễn và Vũ, 2013) 2. Đổi mới sáng tạo quy trình Theo OECD Oslo Manual (2005) thì ĐMST được phân loại thành 4 loại hình, bao gồm: (i) ĐMST sản phẩm (product innovation), (ii) ĐMST quy trình (process innovation), (iii) ĐMST tổ chức (organisational innovation), và (iv) ĐMST marketing (marketing innovation). Theo đó, ĐMST quy trình được định nghĩa như sau: ĐMST quy trình (process innovation) là việc áp dụng một phương pháp sản xuất mới hoặc cải tiến hoặc một phương pháp phân phối mới hoặc cải tiến. ĐMST quy trình bao gồm những thay đổi căn bản trong cách thức sản xuất, máy móc thiết bị hoặc phần mềm.

Đổi mới quy trình có thể được tiến hành nhằm cắt giảm chi phí sản xuất hoặc phân phối, nâng cao chất lượng, hoặc để tạo ra và/hoặc cung ứng sản phẩm mới hoặc cải tiến. Phương pháp sản xuất liên quan đến cách thức sản xuất (kỹ thuật), máy móc, thiết bị và phần mềm sử dụng để sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ. ĐMST quy trình cũng được định nghĩa là những yếu tố mới được giới thiệu vào hoạt động sản xuất của tổ chức như sử dụng nguyên vật liệu đầu vào mới, thay đổi thứ tự các bước thực hiện công việc, thay đổi cơ chế dòng thông tin và công việc, sử dụng thiết bị mới để sản xuất hàng hóa và dịch vụ nhằm mục đích giảm chi phí sản xuất và/hoặc tăng chất lượng sản phẩm (Utterback và Abernathy, 1975; Damanpour, 1991; Reichstein và Salter, 2006). Cũng như ĐMST nói chung thì ĐMST quy trình không chỉ là một hoạt động đơn lẻ mà nó mang bản chất là quá trình.

Quá trình gồm cả những đầu vào ĐMST và những hoạt động biến đổi đầu vào đó thành đầu ra ĐMST. Quá trình này diễn ra trong thời gian dài, theo thời gian hoạt động của doanh nghiệp. Trên cơ sở định nghĩa của các học giả, ĐMST quy trình bao gồm: - Sử dụng nguyên vật liệu đầu vào mới để sản xuất hàng hóa, dịch vụ. - Đưa hệ thống máy móc, thiết bị, dây chuyển sản xuất hoàn toàn mới, hiện đại để thay thế toàn bộ máy móc, thiết bị của dây chuyền sản xuất cũ.

16 - Đưa máy móc, thiết bị vào dây chuyển sản xuất thay thế cho các thao tác thủ công trong dây chuyền sản xuất. - Đưa các robot, thiết bị tự động hóa mới, với công nghệ hiện đại hơn, tiên tiến hơn vào một hoặc một số công đoạn của dây chuyền sản xuất hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp. - Áp dụng phần mềm quản lý mới vào sản xuất hàng hóa, dịch vụ. - Áp dụng một quy trình sản xuất hoàn toàn mới thay thế cho quy trình sản xuất cũ.

- Thay đổi trình tự các bước thực hiện công việc trong quy trình sản xuất hàng hóa, dịch vụ. - Áp dụng hệ thống quản lý sản xuất mới. Ví dụ hệ thống quản lý sản xuất tinh gọn theo tiêu chuẩn Lean, hệ thống ISO, Just in time, hệ thống quản lý chuỗi cung ứng,. Tuy nhiên, việc đưa một thiết bị mới cùng đời, cập nhật phần mềm hiện có không được coi là ĐMST quy trình vì nó không mới hay có sự cải tiến đáng kể đối với doanh nghiệp áp dụng.

ĐMST quy trình có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo quy trình nghiên cứu trong doanh nghiệp phát điện Việt Nam" tập trung vào việc phân tích các yếu tố tác động đến khả năng đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực phát điện tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về các yếu tố nội tại và ngoại tại ảnh hưởng đến quy trình nghiên cứu và phát triển, mà còn cung cấp những giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả đổi mới sáng tạo. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn sâu sắc về cách thức mà các yếu tố như văn hóa doanh nghiệp, chính sách quản lý và công nghệ có thể thúc đẩy hoặc cản trở sự đổi mới trong ngành điện.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Nghiên cứu tác động của FDI đến đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam, nơi phân tích vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc thúc đẩy đổi mới công nghệ. Bên cạnh đó, bài viết Nghiên cứu các nhân tố tác động đến năng lực đổi mới của doanh nghiệp công nghệ cao tại miền Nam Việt Nam cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ cao. Cuối cùng, bài viết Yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố tài chính ảnh hưởng đến sự đổi mới trong các doanh nghiệp khởi nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp tại Việt Nam.