Chương 1: Giới thiệu về đề tài 4 Giới thiệu về đề tài, trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài và bố cục của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Nêu lý luận tổng quan về những yếu tố tác động đến sự sáng tạo đổi mới của nhà quản lý. Mô hình nghiên cứu, các giả thuyết trong mô hình. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày phương pháp nghiên cứu để kiểm định thang đo, sự phù hợp của mô hình nghiên cứu với các giả thuyết đề ra và thông tin về mẫu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Kết quả của nghiên cứu định lượng chính thức, bao gồm các kết quả phân tích thống kê mô tả mẫu, kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy, phân tích T-test và ANOVA. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Tóm tắt nội dung nghiên cứu, tóm tắt những kết quả thu được từ nghiên cứu này, đóng góp của nghiên cứu, đồng thời đề xuất một số kiến nghị giúp nhà quản lý nhận diện tốt hơn các cơ hội, sự sáng tạo đổi mới của DNNVV tại tỉnh Lâm Đồng. Nêu ra các hạn chế của đề tài. Tài liệu tham khảo.
5 CHƯƠNG II – CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Tóm tắt Chương II: chương này nhằm mục đích trình bày nền tảng lý luận và tổng quan của nghiên cứu, nêu các khái niệm nghiên cứu. Đồng thời xây dựng mô hình nghiên, cũng như các giả thuyết nghiên cứu của đề tài. Gồm 2 phần chính: cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu.1 ĐỊNH NGHĨA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Khái niệm và phân loại DNNVV rất đa dạng, tùy thuộc đặc điểm vùng, miền, đất nước, hay về quy mô vốn, lĩnh vực hoạt động, hay dựa vào mục tiêu nghiên cứu,… Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ. Ở mỗi nước, có những tiêu chí riêng để xác định DNNVV (http://vi.org/wiki/Doanh_nghiệp_nhỏ_và_vừa, 2016).
Ở Việt Nam, theo Điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, quy định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là Doanh nghiệp vừa.2 DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TỈNH LÂM ĐỒNG Tính đến tháng 6 năm 2016, tỉnh Lâm Đồng có khoảng 3.598 doanh nghiệp (theo báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và xã hội tỉnh Lâm Đồng), trong đó: - Phân theo qui mô lao động: + Doanh nghiệp dưới 50 lao động: 3. + Doanh nghiệp từ 50 đến 500 lao động: 171 doanh nghiệp. + Doanh nghiệp từ 500 đến 3000 lao động: 03 doanh nghiệp. 6 - Phân theo loại hình doanh nghiệp: + Doanh nghiệp nhà nước (bao gồm DNTW): 33 doanh nghiệp.
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 99 doanh nghiệp. + Doang nghiệp dân doanh: 3.1 Nhận diện cơ hội kinh doanh Nhận diện cơ hội trong kinh doanh là kết quả của việc nghiên cứu nhu cầu của thị trường trước khi đưa ra bất kì một sản phẩm hay dịch vụ mới. Trường phái kinh tế học Áo giả định rằng mọi người không thể nhận ra tất cả các cơ hội, và nhấn mạnh rằng đó là thị trường không hoàn hảo với sự bất đối xứng thông tin mà tạo ra khoảng cách thông tin, và các cơ hội không xuất hiện trong một hình thức thông tin được đóng gói tốt (Venkataraman, 1997). Kirzner (1997) đã chỉ ra rằng sự phân bố của các thông tin trong xã hội ảnh hưởng đến việc phát hiện ra các cơ hội kinh doanh, và chỉ có một nhóm nhỏ các cá nhân có thể xác định và nhận ra một cơ hội đặc biệt trên thị trường.
Ngoài ra, quá trình khám phá các cơ hội phụ thuộc vào khả năng cá nhân và sẵn sàng để khám phá chúng. Ví dụ, người ta có thể không có khả năng hoặc không sẵn sàng để chú ý đến sự thay đổi môi trường bên ngoài, có thể dẫn đến mất cơ hội (Stevenson & Gumpert, 1985). Trong những trường hợp thông tin không đối xứng, các cá nhân với cái nhìn sâu sắc đặc biệt và kiến thức để khám phá và nhận diện cơ hội kinh doanh để thành công, trong khi có những người khác không thể nhận ra những cơ hội hoặc chỉ nhìn thấy nguy cơ thất bại (Ulhøi, 2005). Quá trình nhận diện cơ hội kinh doanh có thể được khảo sát từ các khung nhận thức cá nhân và hoàn cảnh xã hội.
Do đó, lý thuyết tâm lý học và xã hội học có khả năng giải thích tốt hơn so với lý thuyết kinh tế học trong việc nhận thức cơ hội kinh doanh. Các học giả đã lập luận rằng sự nhận diện cơ hội kinh doanh là một quá trình khám phá chứ không có mục đích tìm kiếm một cơ hội (Kirzner, 1997). Do đó, nghiên 7 cứu từ góc độ tâm lý học đã tìm cách để khám phá lý do tại sao một số người có thể nhận ra các cơ hội kinh doanh trong khi những người khác trong cùng bối cảnh doanh nghiệp lại thiếu khả năng nhận thức được một cơ hội. Phần lớn những nghiên cứu về nhận diện cơ hội kinh doanh đã tập trung vào những yếu tố tâm lý làm tiền tố, ví dụ như những đặc điểm tiêu biểu của tính cách, vì những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến cá nhân trong việc khám phá những cơ hội (De Carolis & Saparito, 2006).
Theo Wang, Ellinger và Wu (2013), các yếu tố sau đây có ảnh hưởng đến việc nhận diện cơ hội kinh doanh: Tự tin vào lực của bản thân, Tri thức đã được tích lũy, Mạng lưới quan hệ trong xã hội và Cơ hội sáng tạo đổi mới trong môi trường ngành.2 Tự tin vào năng lực của bản thân Tự tin vào năng lực của bản thân ở đây được định nghĩa là niềm tin bên trong của một cá nhân có mong muốn chắc chắn đạt được những mục tiêu và nhiệm vụ một cách có hiệu quả (Krueger, 1998). Nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng tự tin vào năng lực bản thân càng cao dẫn đến sự nhận diện càng tốt về các cơ hội kinh doanh (Ozgen, 2003).3 Tri thức đã được tích lũy Nghiên cứu thực nghiệm đã cung cấp bằng chứng mạnh mẽ rằng những kiến thức đã được tích lũy và kinh nghiệm liên quan tích cực đến việc nhận diện cơ hội kinh doanh (Ozgen & Baron, 2007); (Shane S. Gần đây, các học giả đã lập luận rằng sự nhận diện cơ hội kinh doanh là một loại quá trình học tập sử dụng tri thức ẩn của một người (Dutta & Crossan, 2005); (Lumpkin & Lichtenstein, 2005); (Marvel & Lumpkin, 2007). Do đó, sở hữu kiến thức độc đáo của một doanh nhân cho phép xác định một số cơ hội mà người khác bỏ qua.4 Mạng lưới quan hệ trong xã hội Gần đây lý thuyết về mạng lưới quan hệ xã hội đã được mở rộng đến lĩnh vực kinh doanh (Liao & Welsch, 2005); (Williams & Lee, 2009).
Lý thuyết về mạng lưới quan hệ xã hội đã cung cấp một vài câu trả lời để giải thích những mối quan hệ giữa 8 cá nhân và việc nhận ra cơ hội kinh doanh (Busenitz, et al. Trong điều kiện môi trường không chắc chắn, các mạng xã hội cá nhân mang lại nhiều thông tin và tiềm lực chính xác hơn, do đó đã giúp cho các doanh nghiệp nhận ra cơ hội kinh doanh và giá trị của thông tin (Manev, Gyoshev, & Manolova, 2005). Dimov (2007) cũng đề xuất rằng các thính giả xã hội (social audience) bị tương tác bởi mạng xã hội có thể ảnh hưởng đến quá trình diễn dịch và tích hợp thông tin để hỗ trợ việc định hình các cơ hội kinh doanh ban đầu. Vì vậy, mạng lưới quan hệ xã hội của một cá nhân cung cấp những nguồn lực thúc đẩy khả năng nhận diện và xác định cơ hội.
Ngoài ra, nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng các mạng liên kết mạnh hay yếu (strong tie or weak tie network) đều có một tác động tích cực vào quá trình nhận diện cơ hội kinh doanh (Ardichvili, Cardozo, & Ray, 2003); (Bajargal, 2007); (Ozgen, 2003) (Ozgen & Baron, 2007). Gần đây, nghiên cứu định tính Rae (2006), đã chỉ ra rằng kinh nghiệm xã hội và mạng lưới giữa các cá nhân hỗ trợ khả năng nhận diện cơ hội kinh doanh do đó tiếp tục tạo thuận lợi cho quá trình học tập kinh doanh của một doanh nhân.5 Môi trường doanh nghiệp và môi trường ngành Môi trường doanh nghiệp là các yếu tố, bao gồm cả bên ngoài lẫn bên trong, ảnh hưởng đến sự hoạt động, thành công hay thất bại của doanh nghiệp (http://vi.org/wiki/Môi_trường_doanh_nghiệp, 2016): - Môi trường bên ngoài bao gồm môi trường vĩ mô gồm các yếu tố như: Tự nhiên; Kinh tế; Kỹ thuật – Công nghệ; Văn hóa – Xã hội; Chính trị; Đoàn thể, các lực lượng chính trị, xã hội - Nguồn nhân lực xã hội, quốc gia; Môi trường hội nhập - quốc tế và môi trường vi mô bao gồm: Nhà cung cấp; Khách hàng; Đối thủ cạnh tranh; Đối thủ tiềm ẩn; Sản phẩm thay thế. - Môi trường bên trong bao gồm các nguồn lực về con người, tài chính, công nghệ, sản phẩm, giá, kênh phân phối, xúc tiến quảng cáo. của doanh nghiệp.
Ngoài ra còn có văn hóa doanh nghiệp. 9 Môi trường ngành là môi trường phức tạp nhất và cũng ảnh hưởng nhiều nhất đến cạnh tranh. Sự thay đổi có thể diễn ra thường xuyên và khó dự báo chính xác được, khác với môi trường vĩ mô, môi trường ngành không được tổng hợp từ những quy định, quy luật mà nó đậm tính thời điểm nhất định (http://voer.vn/m/cac- nhan-to-thuoc-moi-truong-nganh/6ac02f93, 2016).6 Cơ hội sáng tạo đổi mới trong môi trường ngành Stevenson và Gumpert (1985) đã chỉ ra rằng, những áp lực bên ngoài, công nghệ, sự tiết kiệm của khách hàng, giá trị xã hội, chính sách chính trị, thể chế pháp luật có thể động viên cá nhân theo đuổi việc nhận diện cơ hội. Tuy nhiên, vẫn còn có ít những nghiên cứu về việc những yếu tố của môi trường bên ngoài có tác dụng là một tiền tố của nhận diện cơ hội kinh doanh, những nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở việc giả định rằng yếu tố môi trường bên ngoài là bất biến (Park, 2005).