Chương 1 giới thiệu những vấn đề lý luận cơ bản nhất về tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp. Đây là sở cứ lý thuyết để cao học viên đi phân tích thực trạng hoạt động tạo động lực cho cán bộ công nhân viên tại Viễn Thông Ninh Bình ở chương 2. Động lực và tạo động lực làm việc cho người lao động 1.1 Động lực Bất kỳ một tổ chức nào cũng mong muốn người lao động của mình hoàn thành công việc với hiệu quả cao góp phần thực hiện thành công các mục tiêu của tổ chức.Tuy nhiên, trong tập thể lao động luôn có người lao động làm việc hăng say, nhiệt tình, có kết quả thực hiện công việc cao nhưng cũng có những người lao động làm việc trong trạng thái uể oải, thiếu hứng thú, thờ ơ hững hờ với công việc dẫn đến kết quả thực hiện công việc rất thấp. Các nhà kinh tế học đã chỉ ra rằng câu trả lời cho vấn đề trên chính là động lực lao động của mỗi cá nhân người lao động.
Động lực lý giải cho lý do tại sao một người lại hành động. Một người có động lực là khi người đó bắt tay vào làm việc một cách tự nguyện mà không có sự ép buộc, khi đó, họ có thể làm được nhiều hơn điều mà cấp trên mong muốn. Cùng nghiên cứu về động lực lao động, có định nghĩa cho rằng: Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người làm việc trong điều kiện cho phép gia tăng năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động [8, tr.85] hay Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu tốt của tổ chức [7, tr.
Suy cho cùng động lực lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động mà ra. Nó không xuất phát từ bất kỳ sự cưỡng chế nào. Nó không phải là đặc điểm tính cách cá nhân. Động lực lao động không biểu hiện qua lời nói mà qua hành động cụ thể, nó xuất phát từ nội tâm của người lao động.
Do vậy, hành vi có động lực (hay hành vi được thúc đẩy, khuyến khích) trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp tác động của nhiều yếu tố như văn hóa Luan van 7 tổ chức, hành vi lãnh đạo, cấu trúc tổ chức, các chính sách đối với người lao động. Các yếu tố thuộc về cá nhân người lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực cho chính bản thân họ như nhu cầu, mục đích, các lý tưởng, hoài bão, kế hoạch trong tương lai… Như vậy, có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về động lực lao động là: Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người làm việc tích cực trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động. Từ đó, mục tiêu của các nhà quản lý là phải tạo ra được động lực để người lao động có thể đạt hiệu quả cao nhất phục vụ công việc một cách tốt nhất.2 Tạo động lực làm việc cho người lao động Mỗi người làm việc với những lý do khác nhau.
Người lao động làm việc bởi họ có thể có được những thứ mà họ cần từ công việc, điều đó ảnh hưởng tới tinh thần, nhuệ khí, động lực làm việc và chất lượng cuộc sống của họ. Điều mà nhà quản lý trong tổ chức cần làm là sử dụng các động lực kích thích người lao động, thúc đẩy mọi người thực hiện nhiệm vụ một cách nhiệt tình, sáng tạo, có hiệu quả để đem đến thành công cho tổ chức. Mục đích quan trọng nhất của tạo động lực là sử dụng hợp lý nguồn lao động, khai thác tối đa hiệu quả nguồn lực con người. Điều này chỉ có thể đạt được khi người lao động của tổ chức có động lực làm việc.
Tạo động lực lao động là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc [8, tr. Các biện pháp được đặt ra có thể là thiết lập nên những mục tiêu thiết thực vừa thỏa mãn với mục tiêu của người lao động và phù hợp c mục đích của doanh nghiệp, sử dụng các biện pháp kích thích cả về vật chất lẫn tinh thần… Nhưng để đề ra được những mục tiêu phù hợp với nhu cầu của người lao động, tạo cho người lao động sự hăng say trong quá trình làm việc thì nhà quản lý phải biết được mục đích hướng tới của người lao động sẽ là gì. Việc dự đoán và kiểm soát hành động của người lao động hoàn toàn có thể thực hiện được thông qua việc nhận biết động cơ và nhu cầu của họ. Do vậy, vấn đề tạo động lực lao động Luan van 8 thuộc về sự chủ động của tổ chức, nhà quản lý phải nghiên cứu, tìm hiểu môi trường làm việc, công việc, mối quan hệ của họ trong tổ chức đó, tìm ra cách tạo động lực có hiệu quả cao nhất.
Tóm lại, tạo động lực lao động là sự vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động tới người lao động làm họ có động lực trong công việc, làm cho họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn đóng góp cho tổ chức [7, tr. Quá trình tạo động lực là một quá trình diễn ra liên tục và cần đầu tư nên đòi hỏi các nhà quản lý phải chủ động nắm bắt được các nhu cầu của người lao động từ đó đưa ra các chính sách phù hợp mà lợi ích gắn chặt với hoạt động của tổ chức.1: Quá trình tạo động lực lao động (Nguồn: Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương, Giáo trình tổ chức hành vi NXB Đại học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội, 2013) 1.3 Ý nghĩa của tạo động lực làm việc cho người lao động Đối với xã hội, tạo động lực giúp cho các thành viên trong xã hội có cuộc sống tốt đẹp hơn, bởi vì các nhu cầu của họ có khả năng được đáp ứng tối đa. Tạo động lực gián tiếp trong công việc xây dựng xã hội ngày càng phát triển hơn trên cơ sở phát triển của mỗi cá nhân, doanh nghiệp vì mỗi cá nhân hay doanh nghiệp đều là thành viên của xã hội, Mặt khác, tạo động lực giúp cá nhân trong xã hội đạt được các mục tiêu do họ đặt ra qua đó hình thành nên những giá trị mới. Đối với doanh nghiệp, tạo động lực góp phần quan trọng vào việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp qua đó giúp doanh nghiệp nâng cao vị thế, uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường.
Tạo động lực trong doanh nghiệp được sử dụng có hiệu quả sẽ khai thác được tối ưu khả năng của người lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, nó còn thu hút được lao động giỏi cho doanh nghiệp. Luan van 9 Đối với bản thân người lao động, tạo động lực giúp cho người lao động không ngừng phấn đấu, hoàn thiện hơn và phát huy tính sáng tạo của mình. Một số lý thuyết về động lực và tạo động lực làm việc cho người lao động 1) Thuyết phân cấp nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Nhu cầu của con người là một cảm giác, một trạng thái về sự thiếu thốn, sự trống trải về mặt vật chất, tinh thần mà họ mong muốn được đáp ứng.
Abraham Maslow là một nhà tâm lý học người Mỹ đã nghiên cứu và cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ. Các nhu cầu này được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao căn cứ vào tầm quan trọng và chia thành 5 bậc như sau: Hình 1.2: Tháp nhu cầu của Maslow (Nguồn:http://ybox.vn/khoi-nghiep/thap-nhu-cau-maslow-trong-quan- tri-doanh-nghiep-290746, truy nhập ngày 18/04/2018) - Các nhu cầu sinh học: là những nhu cầu cần thiết và tối thiểu nhất đảm bảo cho con người tồn tại như ăn, uống, mặc, tồn tại và phát triển nòi giống và các nhu cầu của cơ thể khác. ; - Nhu cầu về an toàn: là những nhu cầu được đảm bảo về an toàn, không bị đe dọa về tài sản, công việc, sức khỏe, tính mạng và gia đình. - Nhu cầu về xã hội: là những nhu cầu về tình yêu, được chấp nhận, bè bạn, mong muốn được tham gia vào một tổ chức hay một đoàn thể nào đó, hay nói cách khác là nhu cầu bạn bè, giao tiếp.
- Nhu cầu được tôn trọng: là nhu cầu có địa vị, được người khác công nhận và tôn trọng, cũng như nhu cầu tự tôn trọng mình. Luan van 10 - Những nhu cầu về tự thể hiện: là những nhu cầu về chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hước, mong muốn phát triển toàn diện cả về trí tuệ lẫn thể lực. Maslow đã chia các nhu cầu thành 2 cấp: cấp cao và cấp thấp. Cấp thấp gồm các nhu cầu sinh vật học và an ninh, an toàn.
Cấp cao gồm các nhu cầu xã hội, tự trọng và tự thể hiện. Sự khác biệt giữa hai cấp này là chúng thỏa mãn từ bên trong và bên ngoài của con người. Maslow cho rằng khi con người được thỏa mãn nhu cầu bậc dưới đến một mức độ nhất định thì tự nó nảy sinh các nhu cầu bậc cao hơn. Hay khi mỗi một nhu cầu trong số các nhu cầu đó được thỏa mãn thì nhu cầu tiếp theo trở nên quan trọng.
Sự thỏa mãn nhu cầu của các cá nhân sẽ đi theo thứ bậc như trên và mặc dù không có một nhu cầu nào có thể được thỏa mãn hoàn toàn, nhưng một nhu cầu được thỏa mãn về cơ bản thì không còn tạo ra động lực. Thuyết cấp bậc nhu cầu của A. Maslow được đánh giá rất cao vì nó có một ẩn ý quan trọng đối với các nhà quản lý là muốn động viên nhân viên thì cần phải biết NLĐ của mình đang ở cấp độ nhu cầu nào, từ đó có các giải pháp phù hợp cho việc thỏa mãn nhu cầu NLĐ đồng thời bảo đảm đạt đến các mục tiêu của tổ chức. Mặc dù ra đời cách đây hơn nửa thế kỷ, nhưng học thuyết Maslow được các nhà quản trị ứng dụng rộng rãi trong quản trị nguồn nhân lực.