Vai trò của giáo dục pháp luật trong việc cải tạo phạm nhân tại trại giam Nam Hà

Luận án tiến sĩ luật học phân tích vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành án tại các trại giam thuộc bộ công an, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2014

193
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài

1.3. Mục đích nghiên cứu

1.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

1.6. Phương pháp nghiên cứu

1.6.1. Phương pháp phân tích tài liệu

1.6.2. Phương pháp phỏng vấn sâu

1.6.3. Phương pháp quan sát

1.6.4. Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi

1.7. Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích

2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

2.1. Các công trình nghiên cứu về tội phạm nói chung

2.2. Công trình nghiên cứu liên quan đến giáo dục, giáo dục phạm nhân trong trại giam

3. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN

3.1. Các khái niệm công cụ

3.2. Giáo dục pháp luật và giáo dục pháp luật cho phạm nhân

3.3. Tội phạm và phạm nhân

3.4. Chuẩn mực và sai lệch chuẩn mực

3.5. Một số lí thuyết được sử dụng trong nghiên cứu về hành vi lệch chuẩn và tội phạm

3.5.1. Lí thuyết hành vi lệch chuẩn

3.5.2. Lí thuyết về nền văn hoá phụ của kẻ tội phạm

3.5.3. Lí thuyết Xung đột

3.6. Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác giáo dục phạm nhân

3.6.1. Truyền thống dân tộc, tư tưởng bao dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh

3.6.2. Chính sách hình sự về giáo dục cải tạo phạm nhân

3.6.3. Các nguyên tắc cơ bản trong giáo dục pháp luật

3.7. Đặc điểm phạm nhân đang chấp hành án tại các trại giam, đặc điểm, địa bàn nghiên cứu

3.7.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của các trại giam thuộc Bộ Công an

3.7.2. Tình hình phạm nhân đang chấp hành án tại các trại giam

3.7.3. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (Trại giam Nam Hà)

4. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI PHẠM NHÂN QUA KHẢO SÁT TẠI TRẠI GIAM NAM HÀ

4.1. Nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật

4.1.1. Nội dung giáo dục pháp luật

4.1.2. Phương pháp giáo dục pháp luật

4.1.3. Hình thức giáo dục pháp luật

4.2. Yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục pháp luật cho phạm nhân

4.2.1. Yếu tố ảnh hưởng trực tiếp

4.2.2. Yếu tố ảnh hưởng gián tiếp

5. KẾT QUẢ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI PHẠM NHÂN, MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TẠI TRẠI GIAM NAM HÀ

5.1. Kết quả của giáo dục pháp luật đối với phạm nhân

5.1.1. Nâng cao nhận thức pháp luật

5.1.2. Phạm nhân nhận thức được tội lỗi của mình gây ra

5.1.3. Hình thành ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của phạm nhân

5.2. Một số vấn đề đặt ra trong giáo dục pháp luật đối với phạm nhân

5.2.1. Đánh giá chung

5.2.2. Một số tồn tại

5.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành án tại Trại giam Nam Hà

5.3.1. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp quy hướng dẫn tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho phạm nhân

5.3.2. Bảo đảm các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực phục vụ công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam

5.3.3. Nâng cao trình độ kiến thức pháp luật, kỹ năng nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân

5.3.4. Đổi mới giáo dục pháp luật cho phạm nhân

5.3.5. Có chế tài khen thưởng kịp thời - kỷ luật nghiêm minh đối với phạm nhân trong quá trình giáo dục pháp luật

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về giáo dục pháp luật tại trại giam Nam Hà

Giáo dục pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc cải tạo phạm nhân tại các trại giam, đặc biệt là tại Trại giam Nam Hà. Giáo dục pháp luật không chỉ giúp phạm nhân nhận thức rõ hơn về hành vi phạm tội của mình mà còn tạo điều kiện cho họ tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành án. Theo nghiên cứu, việc giáo dục pháp luật có thể làm giảm tỷ lệ tái phạm tội, từ đó góp phần bảo đảm an ninh xã hội. Phạm nhân tại Trại giam Nam Hà thường là những người có tiền án, tiền sự, và việc giáo dục pháp luật cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả để đạt được kết quả tốt nhất.

1.1. Đặc điểm của phạm nhân tại Trại giam Nam Hà

Trại giam Nam Hà chủ yếu giam giữ những phạm nhân có tội danh nghiêm trọng, như xâm phạm an ninh quốc gia. Đặc điểm này đòi hỏi chương trình giáo dục pháp luật phải được thiết kế phù hợp với từng nhóm tội phạm. Hệ thống giáo dục pháp luật tại đây cần chú trọng đến việc nâng cao nhận thức về pháp luật, giúp phạm nhân hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình. Việc này không chỉ giúp họ cải tạo tốt hơn mà còn tạo ra một môi trường an toàn trong trại giam.

II. Nội dung và phương pháp giáo dục pháp luật

Nội dung giáo dục pháp luật tại Trại giam Nam Hà bao gồm các kiến thức cơ bản về pháp luật Việt Nam, quyền con người và các quy định trong trại giam. Phương pháp giáo dục được áp dụng đa dạng, từ giảng dạy lý thuyết đến thực hành, nhằm tạo điều kiện cho phạm nhân tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả. Việc sử dụng các hình thức như thảo luận nhóm, diễn đàn pháp luật cũng giúp phạm nhân có cơ hội trao đổi và học hỏi lẫn nhau. Tác động của giáo dục pháp luật đến nhận thức của phạm nhân là rất lớn, giúp họ hình thành ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với xã hội.

2.1. Các hình thức giáo dục pháp luật

Các hình thức giáo dục pháp luật tại Trại giam Nam Hà bao gồm lớp học chính quy, các buổi tọa đàm và các hoạt động ngoại khóa. Những hình thức này không chỉ giúp phạm nhân tiếp cận kiến thức pháp luật mà còn tạo cơ hội cho họ thực hành và áp dụng những gì đã học vào thực tế. Đào tạo phạm nhân thông qua các chương trình giáo dục pháp luật là một trong những cách hiệu quả nhất để giảm thiểu tình trạng tái phạm tội, đồng thời nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong cộng đồng.

III. Kết quả và đánh giá hiệu quả giáo dục pháp luật

Kết quả của giáo dục pháp luật tại Trại giam Nam Hà cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong nhận thức của phạm nhân về pháp luật. Nhiều phạm nhân đã nhận thức được tội lỗi của mình và có ý thức trách nhiệm hơn trong việc tuân thủ quy định của trại giam. Đánh giá chung cho thấy rằng giáo dục pháp luật không chỉ giúp phạm nhân cải tạo mà còn góp phần vào việc giảm tỷ lệ tái phạm tội. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua để nâng cao hiệu quả của chương trình giáo dục này.

3.1. Những tồn tại và giải pháp

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng giáo dục pháp luật tại Trại giam Nam Hà vẫn còn tồn tại một số vấn đề như nội dung giáo dục chưa phong phú, phương pháp giảng dạy chưa đa dạng. Để khắc phục những tồn tại này, cần có sự đầu tư hơn nữa vào hệ thống giáo dục pháp luật, bao gồm việc cập nhật nội dung giảng dạy, đào tạo đội ngũ cán bộ giáo dục có chuyên môn cao và áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại. Giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật sẽ góp phần quan trọng trong việc cải tạo phạm nhân và giảm thiểu tình trạng tái phạm tội.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề mới đƣợc nêu trong công trình này. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích tỉ mỉ các dữ liệu về tỉ lệ phạm tội giết ngƣời giữa các nhóm ngƣời (chủng tộc) khác nhau ở Philadenphia, hai ông đã cố gắng giải thích về nguyên nhân của tội phạm. Chủ đề chủ yếu của Franco Ferracuty và Marvin Wolfgang đề cập đó là: bạo lực là một hình thức đƣợc học tập (học từ ngƣời khác) để thích ứng với việc đƣơng đầu với các vấn đề trong cuộc sống. Vấn đề học tập bạo lực xảy ra trong bối cảnh của văn hóa thứ cấp và văn hóa này đã nhấn mạnh đến lợi ích cửa việc sử dụng bạo lực so với các hình thức thích ứng khác trong cuộc sống để tồn tại.

Văn hóa thứ cấp này đƣợc đặc trƣng bởi những câu chuyện, bài hát nói đến chiến thắng bằng bạo lực, chiến thắng bằng việc sở hữu và sử dụng súng. Những ngƣời thuộc văn hóa này gần nhƣ đƣợc dạy rằng phản ứng nhanh, quyết đoán là cách cần thiết để bảo vệ danh dự của mình trƣớc cộng đồng. Các thành viên của nhóm văn hóa thứ cấp có mình trƣớc cộng đồng. Các thành viên của nhóm văn hóa thứ cấp có khuynh hƣớng “chiến đấu” - thích sử dụng bạo lực để giải quyết tranh chấp trong cộng đồng.

Hay nói cách khác, đối với các thành viên của văn hóa thứ cấp, bạo lực là một lối sống (a way of life) [75, tr. Tác phẩm “Ngƣời ngoài” của Howard Becker cho rằng: “Các nhóm xã hội tạo ra sự lệch lạc bằng cách đặt ra những quy tắc mà nếu vi phạm chúng thì sẽ lệch lạc và bằng cách áp dụng các quy tắc này cho những ngƣời nào đó và gắn cho họ cái nhãn là ngƣời ngoài. Theo quan điểm này thì lệch lạc không 21 z phải là cái chất của cái hành động do một ngƣời nào đó làm ra, mà là hậu quả của việc những ngƣời khác áp dụng quy tắc và thƣởng phạt cho một ngƣời “vi phạm”. Bản chất của lí thuyết “gắn nhãn” là khả năng của các nhóm có quyền lực gắn cái nhãn “lệch lạc” cho những ngƣời ở các nhóm yếu thế.

“Một hành vi có là lệch lạc hay không một phần phụ thuộc vào bản chất của hành vi (có vi phạm quy tắc nào đó không) và một phần tuỳ thuộc vào chỗ ngƣời khác làm gì về việc đó” [101, tr. Trong cuốn sách “Nhập môn xã hội học” của tập thể tác giả Tony Bilton, Philip Jones, Ken Sheard, Michelle Stanworth, Andrew Webster, Kenvin Bonneu (1993), các tác giả giới thiệu lí thuyết về nền văn hoá phụ của kẻ tội phạm “Sự phạm tội là một hoạt động nhƣ bất cứ sự hoạt động nào khác, đƣợc nghiên cứu trong sự liên kết với những hoạt động khác theo cung cách nghiên cứu hành vi có quy ƣớc nhất, một số tiêu chuẩn mức giá trị và tiêu chuẩn hành vi trở thành truyền thống trong những nhóm phạm tội đƣợc truyền và tồn tại mãi trong nhóm. Lí thuyết về nền văn hoá phụ của kẻ tội phạm nhấn mạnh đến sự tồn tại của toán tội phạm hay cách khác đó là những tổ chức tội phạm. Tác phẩm “Luật bắt chƣớc”, Gabriel Tarde tuy chịu ảnh hƣởng thuyết của Darwin về quá trình chọn lọc tự nhiên, nhƣng ông phản bác thuyết của Cesare Lombroso về sự biến dị có tính sinh vật - một thuyết rất nổi tiếng vào thời đại ông.

Ông cho rằng cơ sở của bất kỳ xã hội nào chính là sự bắt chƣớc. Trong xã hội, hành vi của mỗi ngƣời thực chất là sự bắt chƣớc hành vi của ngƣời khác. Từ đó, ông đã xây dựng, phát triển lí thuyết của mình theo ý tƣởng “luật bắt chƣớc”, nguyên nhân của tội phạm là do một ngƣời đã bắt chƣớc hành vi phạm tội của ngƣời khác mà ngƣời đó có cơ hội quan sát. Gabriel Tarde chia các trƣờng hợp bắt chƣớc ra làm 3 loại: 1) Cá nhân bắt chƣớc những ngƣời khác cân xứng với mức độ và tần số tiếp xúc của họ; 2) Những ngƣời cấp thấp hơn bắt chƣớc những ngƣời ở cấp trên 22 z họ.

Ví dụ nhƣ ngƣời nghèo có thể có hành vi bắt chƣớc ngƣời giàu hơn; 3) Khi hai khuôn mẫu hành vi mâu thuẫn, một cái có thể chiếm vị trí của cái kia tƣơng tự nhƣ súng thay thế cho dao với tƣ cách là vũ khí giết ngƣời” [75, tr. Cesare Beccaria với các tác phẩm tội phạm học kinh điển nổi tiếng “Về tội phạm và hình phạt” ra đời năm 1764 cho rằng luật hình sự phải quy định rõ về tội phạm, hình phạt. Hình phạt phải tƣơng xứng với mức độ nguy hiểm của tội phạm. Nếu một hình phạt ngang bằng đƣợc áp dụng đối với hai tội phạm đã gây thiệt hại cho xã hội ở mức độ khác nhau thì không có gì cản trở con ngƣời tiếp tục thực hiện những tội phạm nghiêm trọng hơn mỗi khi chúng đem lại nhiều lợi ích hơn; hình phạt cần phải căn cứ vào mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đƣợc đánh giá bởi những thiệt hại gây ra cho xã hội; hình phạt cần áp dụng nhanh chóng thì khi đó nó có giá trị phòng ngừa tốt nhất [75, tr.

Jeremy Bentham thì cho rằng để giảm tội phạm phải phòng ngừa điều ác xảy ra. Đồng thời, ông cho rằng tính tất yếu của hình phạt quan trọng hơn tính nghiêm khắc của nó trong phòng ngừa ngƣời phạm tội là để phòng ngừa tội phạm. Sự phòng ngừa là mục đích chủ yếu nhất của hình phạt. Jeremy Bentham cho rằng pháp luật là cần thiết, pháp luật đƣợc đặt ra để mang lại hạnh phúc cho nhân dân.

Và ông mong muốn hạn chế tối đa cho số lƣợng ngƣời đông nhất. Khi hình phạt mang lại bất hạnh cho ngƣời phạm tội, nó chỉ đƣợc chấp nhận nếu nó phòng ngừa đƣợc nhiều điều tồi tệ hơn là tạo ra sự bất hạnh đó. Nếu phòng ngừa là mục đích của hình phạt và nếu hình phạt trở nên quá tai hại bởi việc tạo nhiều thiệt hại hơn là tốt đẹp thì hình phạt cần phải đƣợc đặt ra cao hơn so với lợi ích mà ngƣời phạm tội có đƣợc khi thực hiện tội phạm. Ông cũng đƣa ra ý tƣởng thành lập lực lƣợng cảnh sát đƣợc chuyên môn hoá cho việc phòng ngừa và kiểm soát tội phạm.

Jeremy Bentham đƣa ra ý tƣởng xây dựng hệ thống các nhà tù theo kiểu “Panopticon House”. Theo thiết kế của Jeremy Bentham thì đây là loại nhà tù xây tròn với 23 z những phòng giam bên trong (ở giữa có chòi canh gác - nơi mà nhân viên giám sát tù nhân có thể quan sát đƣợc toàn cảnh các tù nhân trong các phòng giam). Ông cho rằng “Panopticon House” của ông không đƣợc giới cầm quyền thời kỳ đó ủng hộ, triển khai trong thực tế [75, tr. Cuốn sách “Tội phạm kinh tế thời mở cửa” của tác giả Nguyễn Xuân Yêm - Nguyễn Hoà Bình (Nxb Công an nhân dân năm 2004) cho rằng tội phạm ngày nay không còn là vấn đề của từng quốc gia mà trở thành vấn đề của toàn cầu.

Đây là hiểm hoạ không chỉ cho từng dân tộc mà là hiểm hoạ chung cho của cả loài ngƣời. Tác giả đã trình bày vấn đề cơ bản nhƣ tình hình, nguyên nhân và kết quả đấu tranh, phƣơng hƣớng và các giải pháp đấu tranh phòng chống tội phạm kinh tế về tham nhũng, buôn lậu… và vai trò của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Cuốn “Tội phạm học nhập môn” (Nxb Công an nhân dân năm 2009) của các tác giả Dƣơng Tuyết Miên đƣa ra quan điểm phòng ngừa tội phạm bằng hình phạt và vấn đề cải tạo tù nhân, quản lí tù nhân “Quá trình cải tạo tù nhân phải là quá trình cảm hoá tù nhân tạo cho họ cơ hội có thể tái hoà nhập cộng đồng dễ dàng hơn sau khi mãn hạn tù” [75, tr. Công trình nghiên cứu liên quan đến giáo dục, giáo dục phạm nhân trong trại giam Jan Amos Cômenxki (1592 - 1670) - nhà sƣ phạm lỗi lạc của thế giới, ông tổ của nền giáo dục cận đại cho rằng: "Trẻ em vào đời như con khỉ con, gặp gì nó cũng bắt chước.

Vì thế, để giáo dục tốt trẻ em cần phải cải tạo môi trường giáo dục và phải giáo dục bằng tấm gương của mọi người xung quanh” [99, tr. Macarencô (1888 - 1939) nhà giáo dục đã có công xây dựng nền giáo dục Xô Viết. Ông không chỉ đề ra mục tiêu giáo dục mà đã tìm ra con đƣờng đi đến mục tiêu, đó chính là con đƣờng xây dựng một tập thể đúng 24 z đắn, tạo ra ảnh hƣởng đúng đắn của tập thể với cá nhân.Macarencô không nói nhiều đến môi trƣờng giáo dục, nhƣng khái niệm tập thể giáo dục mà ông nêu ra với những dấu hiệu đặc trƣng của nó là sự thống nhất về mục tiêu và các thành viên của nó cùng tham gia hoạt động, cùng tham gia tổ chức cuộc sống của tập thể, đó chính là môi trƣờng giáo dục, nơi nuôi dƣỡng và phát triển nhân cách cho trẻ. Ông nhấn mạnh dấu hiệu quan trọng, tất yếu của tập thể giáo dục là sự thống nhất hữu cơ những lợi ích của nó với lợi ích của toàn thể xã hội.

Ông cho rằng, sự cần thiết phải biến tập thể thành tập thể sƣ phạm để giáo dục các thành viên của mình và chứng minh trên thực tế rằng sự lãnh đạo sƣ phạm tích cực không những không mâu thuẫn mà còn là điều kiện cần thiết để phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của trẻ em. Macarencô coi trọng vai trò, tính độc lập, chủ động, sáng tạo của tổ chức tự quản học sinh và hết sức giúp cho tổ chức này thực hiện đƣợc vai trò của mình. Nhƣ vậy, tập thể là môi trƣờng của các thành viên, nơi mà mỗi cá nhân tôi luyện ý chí và lòng tự hào của mình trong cuộc đấu tranh bảo vệ lẽ phải, chống lại những sai trái “Nguyên lí của công tác giáo dục chính trị nằm ở chính điểm này. Nguồn gốc của những khái niệm danh dự và nghĩa vụ cũng nằm trong chính cảm giác này về giá trị của tập thể” [16, tr.

Lí luận và thực tiễn xây dựng tập thể của A. Macarencô đã góp phần làm sáng tỏ hơn nhận thức về môi trƣờng và xây dựng môi trƣờng giáo dục, khẳng định môi trƣờng vi mô có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc hình thành và phát triển nhân cách. Tuy nhiên, chính ông cũng đã nhận thấy sai lầm, hạn chế của việc lúc đầu coi tập thể là “nhóm tiếp xúc” dẫn đến gia đình chủ nghĩa, mà phải xây dựng một tập thể lớn hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Vai trò của giáo dục pháp luật trong việc cải tạo phạm nhân tại trại giam Nam Hà" của tác giả Dương Văn Đại, dưới sự hướng dẫn của GS. Tô Duy Hợp và PGS. Nguyễn Thị Kim Thoa, đã chỉ ra tầm quan trọng của giáo dục pháp luật trong quá trình cải tạo phạm nhân. Bài viết nhấn mạnh rằng việc trang bị kiến thức pháp luật không chỉ giúp phạm nhân nhận thức rõ hơn về hành vi của mình mà còn tạo điều kiện cho họ tái hòa nhập cộng đồng sau khi mãn hạn tù. Qua đó, giáo dục pháp luật không chỉ là một công cụ cải tạo mà còn là một phương tiện để giảm thiểu tội phạm trong xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực pháp luật, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Khám Phá Giá Trị Pháp Lý Của Văn Bản Công Chứng Trong Luận Văn Thạc Sĩ Luật, nơi bàn về giá trị pháp lý trong các văn bản công chứng, hay Tìm Hiểu Pháp Luật về Hộ Kinh Doanh ở Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc về pháp luật kinh doanh, và Kỷ luật lao động theo pháp luật Việt Nam hiện nay: Thực trạng và hướng hoàn thiện, giúp bạn hiểu rõ hơn về kỷ luật lao động trong bối cảnh pháp luật hiện hành. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh pháp lý liên quan đến giáo dục và cải tạo trong xã hội.