đặt vấn đề mới đƣợc nêu trong công trình này. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích tỉ mỉ các dữ liệu về tỉ lệ phạm tội giết ngƣời giữa các nhóm ngƣời (chủng tộc) khác nhau ở Philadenphia, hai ông đã cố gắng giải thích về nguyên nhân của tội phạm. Chủ đề chủ yếu của Franco Ferracuty và Marvin Wolfgang đề cập đó là: bạo lực là một hình thức đƣợc học tập (học từ ngƣời khác) để thích ứng với việc đƣơng đầu với các vấn đề trong cuộc sống. Vấn đề học tập bạo lực xảy ra trong bối cảnh của văn hóa thứ cấp và văn hóa này đã nhấn mạnh đến lợi ích cửa việc sử dụng bạo lực so với các hình thức thích ứng khác trong cuộc sống để tồn tại.
Văn hóa thứ cấp này đƣợc đặc trƣng bởi những câu chuyện, bài hát nói đến chiến thắng bằng bạo lực, chiến thắng bằng việc sở hữu và sử dụng súng. Những ngƣời thuộc văn hóa này gần nhƣ đƣợc dạy rằng phản ứng nhanh, quyết đoán là cách cần thiết để bảo vệ danh dự của mình trƣớc cộng đồng. Các thành viên của nhóm văn hóa thứ cấp có mình trƣớc cộng đồng. Các thành viên của nhóm văn hóa thứ cấp có khuynh hƣớng “chiến đấu” - thích sử dụng bạo lực để giải quyết tranh chấp trong cộng đồng.
Hay nói cách khác, đối với các thành viên của văn hóa thứ cấp, bạo lực là một lối sống (a way of life) [75, tr. Tác phẩm “Ngƣời ngoài” của Howard Becker cho rằng: “Các nhóm xã hội tạo ra sự lệch lạc bằng cách đặt ra những quy tắc mà nếu vi phạm chúng thì sẽ lệch lạc và bằng cách áp dụng các quy tắc này cho những ngƣời nào đó và gắn cho họ cái nhãn là ngƣời ngoài. Theo quan điểm này thì lệch lạc không 21 z phải là cái chất của cái hành động do một ngƣời nào đó làm ra, mà là hậu quả của việc những ngƣời khác áp dụng quy tắc và thƣởng phạt cho một ngƣời “vi phạm”. Bản chất của lí thuyết “gắn nhãn” là khả năng của các nhóm có quyền lực gắn cái nhãn “lệch lạc” cho những ngƣời ở các nhóm yếu thế.
“Một hành vi có là lệch lạc hay không một phần phụ thuộc vào bản chất của hành vi (có vi phạm quy tắc nào đó không) và một phần tuỳ thuộc vào chỗ ngƣời khác làm gì về việc đó” [101, tr. Trong cuốn sách “Nhập môn xã hội học” của tập thể tác giả Tony Bilton, Philip Jones, Ken Sheard, Michelle Stanworth, Andrew Webster, Kenvin Bonneu (1993), các tác giả giới thiệu lí thuyết về nền văn hoá phụ của kẻ tội phạm “Sự phạm tội là một hoạt động nhƣ bất cứ sự hoạt động nào khác, đƣợc nghiên cứu trong sự liên kết với những hoạt động khác theo cung cách nghiên cứu hành vi có quy ƣớc nhất, một số tiêu chuẩn mức giá trị và tiêu chuẩn hành vi trở thành truyền thống trong những nhóm phạm tội đƣợc truyền và tồn tại mãi trong nhóm. Lí thuyết về nền văn hoá phụ của kẻ tội phạm nhấn mạnh đến sự tồn tại của toán tội phạm hay cách khác đó là những tổ chức tội phạm. Tác phẩm “Luật bắt chƣớc”, Gabriel Tarde tuy chịu ảnh hƣởng thuyết của Darwin về quá trình chọn lọc tự nhiên, nhƣng ông phản bác thuyết của Cesare Lombroso về sự biến dị có tính sinh vật - một thuyết rất nổi tiếng vào thời đại ông.
Ông cho rằng cơ sở của bất kỳ xã hội nào chính là sự bắt chƣớc. Trong xã hội, hành vi của mỗi ngƣời thực chất là sự bắt chƣớc hành vi của ngƣời khác. Từ đó, ông đã xây dựng, phát triển lí thuyết của mình theo ý tƣởng “luật bắt chƣớc”, nguyên nhân của tội phạm là do một ngƣời đã bắt chƣớc hành vi phạm tội của ngƣời khác mà ngƣời đó có cơ hội quan sát. Gabriel Tarde chia các trƣờng hợp bắt chƣớc ra làm 3 loại: 1) Cá nhân bắt chƣớc những ngƣời khác cân xứng với mức độ và tần số tiếp xúc của họ; 2) Những ngƣời cấp thấp hơn bắt chƣớc những ngƣời ở cấp trên 22 z họ.
Ví dụ nhƣ ngƣời nghèo có thể có hành vi bắt chƣớc ngƣời giàu hơn; 3) Khi hai khuôn mẫu hành vi mâu thuẫn, một cái có thể chiếm vị trí của cái kia tƣơng tự nhƣ súng thay thế cho dao với tƣ cách là vũ khí giết ngƣời” [75, tr. Cesare Beccaria với các tác phẩm tội phạm học kinh điển nổi tiếng “Về tội phạm và hình phạt” ra đời năm 1764 cho rằng luật hình sự phải quy định rõ về tội phạm, hình phạt. Hình phạt phải tƣơng xứng với mức độ nguy hiểm của tội phạm. Nếu một hình phạt ngang bằng đƣợc áp dụng đối với hai tội phạm đã gây thiệt hại cho xã hội ở mức độ khác nhau thì không có gì cản trở con ngƣời tiếp tục thực hiện những tội phạm nghiêm trọng hơn mỗi khi chúng đem lại nhiều lợi ích hơn; hình phạt cần phải căn cứ vào mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đƣợc đánh giá bởi những thiệt hại gây ra cho xã hội; hình phạt cần áp dụng nhanh chóng thì khi đó nó có giá trị phòng ngừa tốt nhất [75, tr.
Jeremy Bentham thì cho rằng để giảm tội phạm phải phòng ngừa điều ác xảy ra. Đồng thời, ông cho rằng tính tất yếu của hình phạt quan trọng hơn tính nghiêm khắc của nó trong phòng ngừa ngƣời phạm tội là để phòng ngừa tội phạm. Sự phòng ngừa là mục đích chủ yếu nhất của hình phạt. Jeremy Bentham cho rằng pháp luật là cần thiết, pháp luật đƣợc đặt ra để mang lại hạnh phúc cho nhân dân.
Và ông mong muốn hạn chế tối đa cho số lƣợng ngƣời đông nhất. Khi hình phạt mang lại bất hạnh cho ngƣời phạm tội, nó chỉ đƣợc chấp nhận nếu nó phòng ngừa đƣợc nhiều điều tồi tệ hơn là tạo ra sự bất hạnh đó. Nếu phòng ngừa là mục đích của hình phạt và nếu hình phạt trở nên quá tai hại bởi việc tạo nhiều thiệt hại hơn là tốt đẹp thì hình phạt cần phải đƣợc đặt ra cao hơn so với lợi ích mà ngƣời phạm tội có đƣợc khi thực hiện tội phạm. Ông cũng đƣa ra ý tƣởng thành lập lực lƣợng cảnh sát đƣợc chuyên môn hoá cho việc phòng ngừa và kiểm soát tội phạm.
Jeremy Bentham đƣa ra ý tƣởng xây dựng hệ thống các nhà tù theo kiểu “Panopticon House”. Theo thiết kế của Jeremy Bentham thì đây là loại nhà tù xây tròn với 23 z những phòng giam bên trong (ở giữa có chòi canh gác - nơi mà nhân viên giám sát tù nhân có thể quan sát đƣợc toàn cảnh các tù nhân trong các phòng giam). Ông cho rằng “Panopticon House” của ông không đƣợc giới cầm quyền thời kỳ đó ủng hộ, triển khai trong thực tế [75, tr. Cuốn sách “Tội phạm kinh tế thời mở cửa” của tác giả Nguyễn Xuân Yêm - Nguyễn Hoà Bình (Nxb Công an nhân dân năm 2004) cho rằng tội phạm ngày nay không còn là vấn đề của từng quốc gia mà trở thành vấn đề của toàn cầu.
Đây là hiểm hoạ không chỉ cho từng dân tộc mà là hiểm hoạ chung cho của cả loài ngƣời. Tác giả đã trình bày vấn đề cơ bản nhƣ tình hình, nguyên nhân và kết quả đấu tranh, phƣơng hƣớng và các giải pháp đấu tranh phòng chống tội phạm kinh tế về tham nhũng, buôn lậu… và vai trò của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Cuốn “Tội phạm học nhập môn” (Nxb Công an nhân dân năm 2009) của các tác giả Dƣơng Tuyết Miên đƣa ra quan điểm phòng ngừa tội phạm bằng hình phạt và vấn đề cải tạo tù nhân, quản lí tù nhân “Quá trình cải tạo tù nhân phải là quá trình cảm hoá tù nhân tạo cho họ cơ hội có thể tái hoà nhập cộng đồng dễ dàng hơn sau khi mãn hạn tù” [75, tr. Công trình nghiên cứu liên quan đến giáo dục, giáo dục phạm nhân trong trại giam Jan Amos Cômenxki (1592 - 1670) - nhà sƣ phạm lỗi lạc của thế giới, ông tổ của nền giáo dục cận đại cho rằng: "Trẻ em vào đời như con khỉ con, gặp gì nó cũng bắt chước.
Vì thế, để giáo dục tốt trẻ em cần phải cải tạo môi trường giáo dục và phải giáo dục bằng tấm gương của mọi người xung quanh” [99, tr. Macarencô (1888 - 1939) nhà giáo dục đã có công xây dựng nền giáo dục Xô Viết. Ông không chỉ đề ra mục tiêu giáo dục mà đã tìm ra con đƣờng đi đến mục tiêu, đó chính là con đƣờng xây dựng một tập thể đúng 24 z đắn, tạo ra ảnh hƣởng đúng đắn của tập thể với cá nhân.Macarencô không nói nhiều đến môi trƣờng giáo dục, nhƣng khái niệm tập thể giáo dục mà ông nêu ra với những dấu hiệu đặc trƣng của nó là sự thống nhất về mục tiêu và các thành viên của nó cùng tham gia hoạt động, cùng tham gia tổ chức cuộc sống của tập thể, đó chính là môi trƣờng giáo dục, nơi nuôi dƣỡng và phát triển nhân cách cho trẻ. Ông nhấn mạnh dấu hiệu quan trọng, tất yếu của tập thể giáo dục là sự thống nhất hữu cơ những lợi ích của nó với lợi ích của toàn thể xã hội.
Ông cho rằng, sự cần thiết phải biến tập thể thành tập thể sƣ phạm để giáo dục các thành viên của mình và chứng minh trên thực tế rằng sự lãnh đạo sƣ phạm tích cực không những không mâu thuẫn mà còn là điều kiện cần thiết để phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của trẻ em. Macarencô coi trọng vai trò, tính độc lập, chủ động, sáng tạo của tổ chức tự quản học sinh và hết sức giúp cho tổ chức này thực hiện đƣợc vai trò của mình. Nhƣ vậy, tập thể là môi trƣờng của các thành viên, nơi mà mỗi cá nhân tôi luyện ý chí và lòng tự hào của mình trong cuộc đấu tranh bảo vệ lẽ phải, chống lại những sai trái “Nguyên lí của công tác giáo dục chính trị nằm ở chính điểm này. Nguồn gốc của những khái niệm danh dự và nghĩa vụ cũng nằm trong chính cảm giác này về giá trị của tập thể” [16, tr.
Lí luận và thực tiễn xây dựng tập thể của A. Macarencô đã góp phần làm sáng tỏ hơn nhận thức về môi trƣờng và xây dựng môi trƣờng giáo dục, khẳng định môi trƣờng vi mô có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc hình thành và phát triển nhân cách. Tuy nhiên, chính ông cũng đã nhận thấy sai lầm, hạn chế của việc lúc đầu coi tập thể là “nhóm tiếp xúc” dẫn đến gia đình chủ nghĩa, mà phải xây dựng một tập thể lớn hơn.