Tổng quan luận án

Vấn đề vốn xã hội (social capital) đã được tiếp cận rộng rãi trong các ngành khoa học kinh tế, tài chính, giáo dục và xã hội học từ đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, việc vận dụng lý thuyết này vào hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN), đặc biệt là đối với các nhóm nghiên cứu mạnh trong các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam, vẫn là một khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết. Hoạt động KH&CN hiện nay đứng trước đòi hỏi phải huy động mọi nguồn lực vô hình bên cạnh nguồn lực vật chất và tài chính. Việc nghiên cứu vai trò, sự tích lũy và cách thức sử dụng vốn xã hội của các tổ chức mang tính linh hoạt như nhóm nghiên cứu mạnh là cơ sở cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị nghiên cứu khoa học.

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu: Làm rõ vai trò của vốn xã hội (thể hiện qua tác động tích cực và tiêu cực của vốn xã hội) trong hoạt động KH&CN: Trường hợp các nhóm nghiên cứu mạnh tại Đại học Quốc gia Hà Nội.

Các nhiệm vụ cụ thể của nghiên cứu:

  1. Nhận dạng đặc điểm của nhóm nghiên cứu mạnh của Đại học Quốc gia Hà Nội.
  2. Làm rõ thực tế sử dụng vốn xã hội trong hoạt động KH&CN của nhóm nghiên cứu mạnh.
  3. Đánh giá tác động tích cực và tiêu cực của vốn xã hội trong hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh.
  4. Đề xuất giải pháp làm giàu vốn xã hội và phát huy những tác động tích cực, hạn chế những biểu hiện tiêu cực của vốn xã hội trong hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh.

Câu hỏi nghiên cứu chủ đạo: Vốn xã hội có vai trò như thế nào trong hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh tại Đại học Quốc gia Hà Nội?

Các câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  • Câu hỏi 1: Các nhóm nghiên cứu mạnh của Đại học Quốc gia Hà Nội có đặc điểm gì?
  • Câu hỏi 2: Thực tế sử dụng vốn xã hội trong hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh như thế nào?
  • Câu hỏi 3: Vốn xã hội có tác động như thế nào trong các hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh?
  • Câu hỏi 4: Làm thế nào để làm giàu vốn xã hội và phát huy những tác động tích cực, hạn chế những biểu hiện tiêu cực của vốn xã hội trong hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh?

Giả thuyết nghiên cứu chủ đạo: Vốn xã hội có vai trò tác nhân quan trọng thúc đẩy hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh của Đại học Quốc gia Hà Nội, được thể hiện và sử dụng trong mọi hoạt động KH&CN.

Các giả thuyết nghiên cứu cụ thể:

  • Giả thuyết 1: Các nhóm nghiên cứu mạnh đều là những tập thể các nhà khoa học có cùng hướng nghiên cứu chuyên môn, có đủ khả năng triển khai các nghiên cứu chất lượng cao và là hạt nhân để xây dựng các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, trường phái khoa học. Mỗi nhóm nghiên cứu mạnh là một think tank, trong đó trưởng nhóm nghiên cứu mạnh có vai trò chủ đạo trong thiết lập, tập hợp được mạng lưới các cộng sự và học trò có khả năng phát triển, xây dựng trường phái khoa học của mình với những vấn đề khoa học đặc thù.
  • Giả thuyết 2: Các nhóm nghiên cứu mạnh đều sử dụng tốt vốn xã hội trong các hoạt động KH&CN của mình: xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ R&D, công bố khoa học, đào tạo, chuyển giao tri thức, thương mại hóa công nghệ.
  • Giả thuyết 3: Vốn xã hội có các tác động tích cực và tiêu cực đến các hoạt động KH&CN. Việc sử dụng vốn xã hội giúp các nhóm nghiên cứu mạnh xây dựng và thiết lập được những mối quan hệ hợp tác (trong và ngoài nước) mạnh, thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN trình độ cao và nâng cao chất lượng nghiên cứu, công bố quốc tế. Tuy nhiên, còn có một số tác động tiêu cực trong việc sử dụng vốn xã hội của các nhóm nghiên cứu mạnh.
  • Giả thuyết 4: Với những giải pháp làm giàu vốn xã hội ở cấp vĩ mô, trung mô và vi mô, cải thiện môi trường nghiên cứu khoa học và làm việc của các nhà KH&CN, sẽ phát huy những tác động tích cực và hạn chế những biểu hiện tiêu cực của vốn xã hội trong hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh.

Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của vốn xã hội trong hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh ở Đại học Quốc gia Hà Nội.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Vai trò của vốn xã hội trong các hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh tại Đại học Quốc gia Hà Nội (gồm xây dựng và thực hiện nhiệm vụ R&D, công bố khoa học, đào tạo, chuyển giao tri thức và thương mại hóa công nghệ).
  • Phạm vi không gian: 27 nhóm nghiên cứu mạnh cấp Đại học Quốc gia Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2014 - 2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các công trình khoa học đã công bố ở nước ngoài về vốn xã hội được khởi xướng từ Lyda Judson Hanifan (1916), nhìn nhận vốn xã hội là các thực thể như thiện ý, tình cảm và giao tiếp xã hội giữa các cá nhân tạo nên đơn vị xã hội. Pierre Bourdieu (1986) phân định vốn xã hội là nguồn lực gắn liền với mạng lưới bền vững và phân tích ba trạng thái của vốn văn hóa (trạng thái thể hiện, trạng thái khách quan, trạng thái thể chế). James Coleman (1988) liên kết vốn xã hội với cấu trúc xã hội và sự hình thành vốn con người. Robert Putnam (1995, 2000) tiếp cận vốn xã hội từ góc độ tham gia công dân và các chuẩn mực có đi - có lại. Về mặt tiêu cực, Alejandro Portes chỉ rõ bốn hệ quả bất lợi của vốn xã hội gồm sự loại trừ người ngoài, đòi hỏi thái quá đối với thành viên, hạn chế tự do cá nhân và sự hạ thấp chuẩn mực cách biệt. Guiso L. cùng cộng sự (2004) xem xét tác động của vốn xã hội đối với phát triển tài chính tại Italia.

Về nhóm nghiên cứu và nhóm nghiên cứu mạnh, các công trình của Beaver D. và Rosen R.; Andrews F. (nghiên cứu trên 1.200 đơn vị của 6 nước) xác định số bài báo và số trích dẫn là tiêu chí then chốt; Main (2007) phân tích các rào cản hoạt động nhóm; Joseph S. Fruton định nghĩa nhóm nghiên cứu trong lĩnh vực hóa học và hóa sinh; Valerie I. Sessa định vị nhóm nghiên cứu như cấu trúc trung gian trong hệ thống viện, trường; Thomas L. Greenbaun và Morgan phân tích cơ chế tương tác nhóm; Tom Peters và Robert Waterman (1982) đưa ra mô hình 7S của McKinsey gồm 3 nhân tố cứng và 4 nhân tố mềm. Về vốn xã hội trong KH&CN, Jukka Partanen cùng cộng sự nghiên cứu vốn xã hội trong các doanh nghiệp KH&CN vừa và nhỏ; Don Cohen và Laurence Prusak khảo cứu hiệu quả làm việc tập thể; Cees J. Gelderman và cộng sự (2016) nghiên cứu tác động của vốn xã hội và biến động công nghệ; Mark R. Costa (2014) dùng học máy phân tích mạng lưới hợp tác khoa học; Emmanuel Lazega và cộng sự (1996-1998) nghiên cứu cộng đồng nghiên cứu ung thư tại Pháp, khẳng định vốn xã hội tổ chức có ảnh hưởng vượt trội so với cá nhân; Giovanni Abramo, Ciriaco Andrea D'Angelo và Flavia Di Costa khảo sát hành vi hợp tác của các nhà khoa học hàng đầu ở Ý; Uri Alon và Margaret Heffernan nhấn mạnh sự tin cậy và chia sẻ tri thức nội bộ.

Tại Việt Nam, các công trình được chia thành hai nhóm:

  • Nhóm nghiên cứu lý thuyết: Phan Đình Diệu (2006) phân tích cơ sở làm giàu vốn xã hội; Trần Hữu Dũng (2008) xem xét vốn xã hội dưới góc độ kinh tế và hàng hóa công; Trần Hữu Quang (2006), Lê Ngọc Hùng (2008), Hoàng Bá Thịnh (2009), Nguyễn Thị Ánh Tuyết và Bùi Thị Phương hệ thống hóa các trường phái tiếp cận vốn xã hội.
  • Nhóm nghiên cứu thực nghiệm: Stephen J. Appold và Nguyễn Quý Thanh khảo sát vốn xã hội trong doanh nghiệp nhỏ tại Hà Nội; Fleur Thomése và Nguyễn Tuấn Anh (2007) nghiên cứu dồn điền đổi thửa nông nghiệp tại Bắc Trung Bộ; Nguyễn Tuấn Anh (2010) phân tích vốn xã hội trong quan hệ họ hàng; Trương Quang Học và Nguyễn Đình Đức xác định 6 yếu tố hình thành và phát triển nhóm nghiên cứu trong trường đại học; Vũ Cao Đàm (2013) đề xuất khung tiếp cận vốn xã hội trong KH&CN qua ba cấp độ vi mô, trung mô và vĩ mô.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trong nước tập trung vào các lĩnh vực kinh tế, nông thôn hoặc xã hội học đại cương. Việc nghiên cứu thực nghiệm có hệ thống về vai trò và tác động hai chiều của vốn xã hội trong hoạt động KH&CN của các nhóm nghiên cứu mạnh tại các cơ sở giáo dục đại học chưa từng được thực hiện đầy đủ trước đó tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Lý thuyết và khung phân tích: Luận án vận dụng hệ thống các khái niệm cơ bản gồm: vốn xã hội, hoạt động KH&CN, nhóm nghiên cứu, nhóm nghiên cứu mạnh, vai trò của vốn xã hội trong hoạt động KH&CN, trung tâm xuất sắc (COE), trường phái khoa học và chân dung xã hội. Vốn xã hội được nhìn nhận qua ba thành tố:

  1. Mạng lưới xã hội: Các liên kết mạng lưới nghiên cứu bên trong và bên ngoài nhóm.
  2. Lòng tin, sự tin cậy: Cơ sở giảm thiểu rủi ro và chi phí giao dịch học thuật.
  3. Sự tương tác, có đi - có lại: Chuẩn mực trao đổi tri thức, hỗ trợ chuyên môn và chia sẻ nguồn lực.

Khung phân tích của luận án kết nối ba thành tố cấu thành vốn xã hội với bốn hoạt động KH&CN đầu ra: (1) Xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ R&D; (2) Công bố khoa học; (3) Hoạt động đào tạo; (4) Chuyển giao tri thức và thương mại hóa công nghệ. Quá trình tác động này được xem xét đồng thời ở khía cạnh tích cực lẫn tiêu cực, đặt dưới sự chi phối của môi trường nghiên cứu và thể chế, chính sách KH&CN hiện hành theo ba cấp độ (vi mô, trung mô, vĩ mô).

Cách tiếp cận nghiên cứu:

  • Tiếp cận quản lý: Đánh giá hoạt động của nhóm nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành quản lý KH&CN.
  • Tiếp cận hệ thống: Xem xét mối quan hệ giữa các thành tố cấu thành vốn xã hội và cơ cấu hoạt động KH&CN.
  • Tiếp cận liên ngành: Kết hợp khoa học quản lý, khoa học chính sách và xã hội học.
  • Tiếp cận nội quan và ngoại quan: Kết hợp các đánh giá chủ quan của thành viên nhóm và quan sát khách quan từ môi trường bên ngoài.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập và phân loại tài liệu sơ cấp (Thông tư 37/2014/TT-BKHCN của Bộ KH&CN; Hướng dẫn số 1409/HD-KH&CN của ĐHQGHN; Chiến lược phát triển đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 của ĐHQGHN; các báo cáo tổng hợp kết quả hoạt động KH&CN) và tài liệu thứ cấp (đề tài khoa học, luận án, bài báo trong và ngoài nước); tiến hành phân tích và tổng hợp lý thuyết.
  • Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi: Khảo sát toàn bộ 27 trưởng nhóm nghiên cứu mạnh cấp ĐHQGHN với bảng hỏi gồm 10 nội dung tập trung vào mạng lưới nghiên cứu, sự tin cậy, quan hệ tương tác, các nguồn kinh phí và vai trò của vốn xã hội. Thu về 22 phiếu hợp lệ (5 trường hợp không phản hồi), bảo đảm tính khuyết danh.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện 10 cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp với trưởng nhóm nghiên cứu mạnh, thành viên nhóm và cán bộ quản lý KH&CN nhằm làm rõ các khía cạnh định tính.
  • Phương pháp thống kê: Xử lý số liệu thứ cấp từ các báo cáo hoạt động KH&CN của ĐHQGHN giai đoạn 2014 - 2017 nhằm phục vụ đối sánh và mô tả thực trạng.
  • Phương pháp bổ trợ: Tham vấn chuyên gia; quan sát trực tiếp hoạt động của các nhóm nghiên cứu; tham dự các hội nghị, hội thảo khoa học chuyên đề tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Công nghệ (ĐHQGHN) và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguồn tư liệu và dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp từ 22 phiếu hỏi khảo sát và 10 biên bản phỏng vấn sâu; dữ liệu thứ cấp từ văn bản quy phạm pháp luật và báo cáo thống kê hoạt động KH&CN chính thức của Đại học Quốc gia Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến ba trục nội dung: vốn xã hội, nhóm nghiên cứu mạnh và vai trò của vốn xã hội trong hoạt động KH&CN. Tác giả chỉ ra sự vận động của lý thuyết vốn xã hội từ cấp độ cá nhân (Bourdieu), cấp độ cấu trúc quan hệ (Coleman) đến cấp độ cộng đồng và thể chế (Putnam, Fukuyama), đồng thời ghi nhận các phân tích về mặt trái của vốn xã hội từ Portes. Luận án phân tích các mô hình nhóm nghiên cứu quốc tế và các tham số đo lường hiệu quả nghiên cứu của Andrews, Joseph S. Fruton, Valerie I. Sessa và mô hình 7S của McKinsey. Điểm lại các nghiên cứu của Phan Đình Diệu, Vũ Cao Đàm, Trương Quang Học, Nguyễn Đình Đức, Nguyễn Tuấn Anh và Trần Hữu Dũng, chương này rút ra nhận xét: vốn xã hội ở Việt Nam hầu như chưa được khảo cứu trong mối liên hệ trực tiếp với hoạt động KH&CN tại các trường đại học, khẳng định sự cần thiết của đề tài.

Chương 2: Cơ sở lý luận trong nghiên cứu vai trò của vốn xã hội trong hoạt động khoa học và công nghệ

Chương 2 làm rõ hệ thống khái niệm công cụ, chuẩn hóa định nghĩa về vốn xã hội trong KH&CN như một dạng tài sản vô hình dựa trên mạng lưới liên kết, lòng tin và các chuẩn mực tương tác qua lại. Hoạt động KH&CN được phân định theo tiêu chuẩn của UNESCO, bao gồm hoạt động R&D và các dịch vụ KH&CN liên quan. Luận án phân tích chi tiết ba thành tố của vốn xã hội: mạng lưới xã hội (các liên kết ngang và liên kết dọc), sự tin cậy (yếu tố then chốt tạo môi trường chia sẻ tri thức an toàn), sự tương tác có đi - có lại (chuẩn mực trao đổi học thuật). Tác giả thiết lập khung phân tích đánh giá tác động hai chiều của vốn xã hội đối với 4 nhóm hoạt động đầu ra KH&CN chịu sự điều tiết của môi trường nghiên cứu và thể chế chính sách ở ba cấp độ vi mô, trung mô và vĩ mô.

Chương 3: Đặc điểm của nhóm nghiên cứu mạnh và vốn xã hội của nhóm nghiên cứu mạnh tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Chương 3 trình bày các tiêu chí thành lập, quy mô, cơ cấu tổ chức và các hoạt động chuyên môn của các nhóm nghiên cứu mạnh tại ĐHQGHN. Luận án phác họa chân dung xã hội và đặc điểm nhân khẩu học của đội ngũ trưởng nhóm nghiên cứu mạnh thông qua số liệu điều tra thực tế:

Tiêu chí phân loại Phân nhóm cụ thể Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam 24 88,89%
Nữ 3 11,11%
Độ tuổi Thế hệ 3X, 4X, 5X, 6X - 78,60%
Thế hệ 7X, 8X - 21,40%
Nơi đào tạo Đào tạo tại nước ngoài - 78,60%
Đào tạo trong nước - 21,40%
Học vị Tiến sĩ 27 100,00%
Học hàm Giáo sư - 53,60%
Phó Giáo sư - 39,30%
Thâm niên công tác Trên 10 năm - 89,30%
Dưới 10 năm - 10,70%

Về đặc điểm vốn xã hội, mạng lưới của các nhóm nghiên cứu mạnh bao gồm đồng nghiệp nội bộ, nhà khoa học ngoài trường, chuyên gia quốc tế và cựu sinh viên. Sự tin cậy nội bộ được các trưởng nhóm xác định là điều kiện tiên quyết để duy trì hoạt động và chia sẻ dữ liệu nghiên cứu ban đầu. Quan hệ tương tác có đi - có lại thể hiện rõ rệt trong việc phân công viết bài báo, hỗ trợ tìm kiếm nguồn tài trợ đề tài và hướng dẫn học viên sau đại học.

Chương 4: Vai trò của vốn xã hội trong hoạt động khoa học và công nghệ của các nhóm nghiên cứu mạnh tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Chương 4 phân tích tác động hai mặt của vốn xã hội đối với 4 nhóm hoạt động KH&CN:

  1. Xây dựng và thực hiện nhiệm vụ R&D: Tác động tích cực thể hiện qua việc tiếp cận thông tin đề tài nhanh chóng, liên kết xây dựng hồ sơ liên ngành và dùng chung trang thiết bị; tác động tiêu cực là nguy cơ hình thành sự khép kín, phân bổ đề tài dựa trên quan hệ quen biết cá nhân và loại trừ các cá nhân ngoài mạng lưới.
  2. Công bố khoa học: Tác động tích cực giúp gia tăng số lượng và chất lượng bài báo quốc tế (ISI/Scopus) nhờ đồng tác giả với mạng lưới chuyên gia nước ngoài và đẩy nhanh quy trình phản biện; tác động tiêu cực xuất hiện dưới dạng nể nang ghi tên tác giả không có đóng góp thực chất hoặc rào cản từ các nhóm lợi ích trong phản biện học thuật.
  3. Hoạt động đào tạo: Tác động tích cực giúp thu hút học viên, nghiên cứu sinh giỏi thông qua uy tín khoa học của trưởng nhóm và tạo kênh kết nối học bổng quốc tế; tác động tiêu cực là sự lệ thuộc chuyên môn, tâm lý bao cấp học thuật hoặc khép kín hướng nghiên cứu theo ý chí cá nhân của trưởng nhóm.
  4. Chuyển giao tri thức và thương mại hóa công nghệ: Tác động tích cực giúp tạo kênh liên kết với doanh nghiệp và địa phương dựa trên lòng tin; tác động tiêu cực là các giao dịch thường mang tính thỏa thuận phi chính thức, tiềm ẩn rủi ro tranh chấp tài sản trí tuệ.

Chương này cũng phân tích bối cảnh cải cách chính sách giai đoạn 2011 - 2020 cùng các bất cập trong thủ tục tài chính, phê duyệt đề tài làm cản trở sự vận hành của vốn xã hội, từ đó đưa ra các giải pháp làm giàu và phát huy vốn xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa và xác lập khung phân tích lý thuyết về vốn xã hội trong lĩnh vực quản lý KH&CN tại cơ sở giáo dục đại học, phân định rõ ba thành tố cốt lõi (mạng lưới nghiên cứu, lòng tin, tương tác có đi - có lại).
  • Nhận diện bản chất hai mặt của vốn xã hội trong môi trường học thuật, chỉ rõ bên cạnh các trợ lực nâng cao năng suất khoa học, vốn xã hội còn tồn tại các hệ quả tiêu cực như sự loại trừ, nể nang học thuật và cục bộ khép kín.

Về mặt thực tiễn:

  • Phác họa bức tranh thực trạng về nhân khẩu học, cơ cấu tổ chức và thực tế sử dụng vốn xã hội của 27 nhóm nghiên cứu mạnh tại Đại học Quốc gia Hà Nội giai đoạn 2014 - 2017.
  • Xác lập vai trò hạt nhân của các trưởng nhóm nghiên cứu mạnh trong việc kiến tạo mạng lưới, tích lũy uy tín khoa học và duy trì sự gắn kết nội bộ.
  • Đề xuất các giải pháp làm giàu vốn xã hội phân định theo ba cấp độ:
    • Cấp vĩ mô: Đổi mới chính sách tài chính KH&CN, đơn giản hóa thủ tục thanh quyết toán, hoàn thiện cơ chế đặt hàng và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
    • Cấp trung mô: Xây dựng môi trường học thuật cởi mở tại đại học, hoàn thiện quy chế công nhận và hỗ trợ kinh phí hoạt động ổn định cho các nhóm nghiên cứu mạnh, phát triển hệ thống phòng thí nghiệm dùng chung.
    • Cấp vi mô: Nâng cao năng lực quản trị nhóm của trưởng nhóm, xây dựng chuẩn mực ứng xử minh bạch, khuyến khích sự tương tác đa chiều giữa các thành viên và mở rộng liên kết ngoài trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi khảo sát thực nghiệm mới chỉ giới hạn ở 27 nhóm nghiên cứu mạnh cấp Đại học Quốc gia Hà Nội trong khung thời gian 2014 - 2017, chưa bao quát các nhóm nghiên cứu thuộc các trường đại học chuyên ngành hoặc các viện nghiên cứu thuộc viện hàn lâm.
  • Phương pháp tiếp cận chủ yếu dựa trên khảo sát định tính kết hợp thống kê mô tả (22/27 phiếu hợp lệ và 10 phỏng vấn sâu), chưa áp dụng các mô hình phân tích mạng lưới xã hội định lượng chuyên sâu (Social Network Analysis - SNA) hay các mô hình kinh tế lượng để đo lường chính xác trọng số ảnh hưởng của vốn xã hội đến năng suất công bố khoa học.
  • Môi trường thể chế phân tích chỉ tập trung vào các chính sách KH&CN hiện hành của Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng diện khảo sát sang các cơ sở giáo dục đại học khối kỹ thuật, kinh tế, y dược và các viện nghiên cứu chuyên ngành trên phạm vi cả nước.
  • Ứng dụng các công cụ định lượng mạng lưới xã hội chuyên sâu nhằm đo lường mật độ mạng lưới, mức độ trung tâm của các nhà khoa học và định lượng hóa mối quan hệ giữa vốn xã hội với chỉ số trích dẫn và các sáng chế thương mại hóa.

Giá trị tham khảo

Luận án cung cấp giá trị tham khảo cụ thể cho các đối tượng:

  • Các nhà quản lý KH&CN tại Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các đại học quốc gia và đại học vùng: Tham khảo cơ sở thực tiễn để ban hành các quy định về tiêu chí công nhận nhóm nghiên cứu mạnh, đổi mới quy trình thẩm định nhiệm vụ R&D và thiết lập cơ chế tài chính linh hoạt.
  • Lãnh đạo các viện, trường đại học: Tham khảo mô hình phát triển nhóm nghiên cứu, cơ chế chia sẻ tài nguyên nghiên cứu và các giải pháp xây dựng văn hóa tin cậy học thuật.
  • Trưởng nhóm nghiên cứu và các nhà khoa học: Tham khảo các phân tích về sự tương tác và mạng lưới để chủ động thiết lập liên kết học thuật trong và ngoài nước, đồng thời nhận diện và phòng ngừa các rào cản tâm lý, tình trạng khép kín trong hoạt động chuyên môn.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Quản lý KH&CN, Khoa học quản lý, Xã hội học: Sử dụng luận án như một tài liệu tham khảo chuyên khảo về cách vận dụng lý thuyết vốn xã hội vào phân tích tổ chức nghiên cứu khoa học.

Câu hỏi thường gặp

1. Mẫu khảo sát thực nghiệm của luận án được xác định như thế nào? Mẫu khảo sát của luận án là toàn bộ 27 trưởng nhóm nghiên cứu mạnh cấp Đại học Quốc gia Hà Nội ở các lĩnh vực khoa học tự nhiên, công nghệ, kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn trong giai đoạn 2014 - 2017. Bảng hỏi gửi đến 27 trưởng nhóm và thu về được 22 phiếu hợp lệ (5 trường hợp không phản hồi). Ngoài ra, tác giả tiến hành 10 cuộc phỏng vấn sâu đối với trưởng nhóm, thành viên nhóm và cán bộ quản lý KH&CN.

2. Ba thành tố cấu thành vốn xã hội trong hoạt động KH&CN được luận án xác định là gì? Luận án xác định vốn xã hội trong hoạt động KH&CN được cấu thành từ ba thành tố: (1) Mạng lưới xã hội (các liên kết giữa cá nhân nhà khoa học, nhóm nghiên cứu với các đối tác trong và ngoài nước); (2) Lòng tin, sự tin cậy (sự tin tưởng chuyên môn và đạo đức học thuật); (3) Sự tương tác, có đi - có lại (sự hợp tác, chia sẻ tri thức, hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và đào tạo).

3. Luận án chỉ ra những tác động tiêu cực nào của vốn xã hội trong công bố khoa học và thực hiện nhiệm vụ R&D? Trong thực hiện nhiệm vụ R&D, vốn xã hội có thể tạo ra tính khép kín, phân bổ nguồn lực dựa trên quan hệ quen biết cá nhân và loại trừ các nhà khoa học ngoài nhóm. Trong công bố khoa học, vốn xã hội có thể dẫn đến việc nể nang đứng tên tác giả khi không có đóng góp thực chất, hoặc tạo nên các nhóm lợi ích gây ảnh hưởng thiếu khách quan trong quá trình bình duyệt công trình.

4. Chân dung xã hội của các trưởng nhóm nghiên cứu mạnh trong mẫu khảo sát có những đặc điểm nhân khẩu học nổi bật nào? Khảo sát 27 trưởng nhóm cho thấy: nam giới chiếm 88,89%, nữ giới chiếm 11,11%; thế hệ 3X đến 6X chiếm 78,6% (trong đó thế hệ 5X chiếm một nửa), thế hệ 7X và 8X chiếm 21,4%; 100% có học vị Tiến sĩ; 53,6% có học hàm Giáo sư, 39,3% là Phó Giáo sư; 78,6% được đào tạo từ nước ngoài; 89,3% có thâm niên công tác trên 10 năm.

5. Khung phân tích của luận án kết nối vốn xã hội với những hoạt động đầu ra KH&CN nào? Khung phân tích của luận án kết nối ba thành tố của vốn xã hội với 4 hoạt động đầu ra KH&CN cụ thể: (1) Xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ R&D; (2) Công bố khoa học; (3) Hoạt động đào tạo; (4) Chuyển giao tri thức, thương mại hóa công nghệ. Quá trình này được phân tích đồng thời ở cả hai chiều tác động tích cực và tiêu cực.

Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Thị Hương Giang là công trình nghiên cứu chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, phân tích vai trò của vốn xã hội đối với các nhóm nghiên cứu mạnh tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Bằng việc kết hợp cách tiếp cận hệ thống, quản lý và liên ngành cùng phương pháp điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu và thống kê mô tả, luận án đã làm rõ cấu trúc ba thành tố vốn xã hội và đánh giá tác động hai mặt của chúng lên 4 nhóm hoạt động KH&CN cơ bản. Các phát hiện thực nghiệm và hệ thống giải pháp ba cấp độ (vĩ mô, trung mô, vi mô) cung cấp luận cứ khoa học có giá trị tham khảo cho công tác hoạch định chính sách và tổ chức nghiên cứu khoa học tại các trường đại học ở Việt Nam.