Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ HÌNH SỰ SƠ THẨM 1.1 Vị trí, vai trò của VKS trong giai đoạn xét xử hình sự sơ thẩm 1.1 Vị trí của VKS trong giai đoạn xét xử hình sự sơ thẩm a) Nói đến vị trí của VKS là nói đến chỗ đứng của nó trong bộ máynhà nước, trong hệ thống các cơ quan nhà nước. Mỗi cơ quan nhà nước nói chung, trong đó có VKS nói riêng, đều có một vị trí nhất định của mình và vị trí này do những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể quyết định. Để xác định vị trí của VKS trong bộ máy nhà nước, trước hết, chúng ta cần tìm hiểu sơ lược về lịch sử hình thành của nó. Nghiên cứu về lịch sử hình thành nhà nước và pháp luật của các nước trên thế giới, có thể thấy các cơ quan được giao thực hiện quyền công tố (quyền nhân danh nhà nước cáo buộc người phạm tội trước tòa án) xuất hiện khá muộn và gắn với quá trình thực hiện sự phân chia quyền lực nhà nước.
Nhìn lại lịch sử phát triển của xã hội loài người, kể từ khi có giai cấp, có thể thấy: Thời kỳ đầu, Nhà nước sơ khai, bộ máy Nhà nước còn đơn giản và hệ thống Pháp luật mới hình thành, quyền công tố chỉ được sử dụng trong một phạm vi hẹp để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và chưa có một cơ quan riêng biệt để thực hiện quyền công tố. Trong Nhà nước chiếm hữu nô lệ, việc phân chia quyền lực nhà nước chưa rõ ràng, chưa có sự phân định giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp. Việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án thông thường chỉ do một quan án đảm nhiệm. Đến cuối thời kỳ chiếm hữu 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nô lệ, Nhà nước La Mã cổ đại mới thành lập cơ quan xét xử tách ra khỏi cơ quan hành pháp.
Trong Nhà nước Phong kiến, việc phân định chức năng nhà nước giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước ngày càng cụ thể, rõ ràng hơn theo hướng chuyên môn hoá. Ở chế độ phong kiến Tây Âu, quyền tư pháp nằm trong tay nhà Vua, Lãnh chúa và Giáo hội. Vào thế kỷ XVII - XIX, cùng với quá trình xác lập Nhà nước trung ương tập quyền, các Toà án của nhà Vua ngày càng có quyền lực lớn, đã hạn chế sự lũng loạn của các Lãnh chúa. Viện công tố lần lượt ra đời, đầu tiên xuất hiện ở Pháp (1285 - 1314), Uỷ viên công tố đứng bên cạnh Toà án để bảo vệ quyền lợi của nhà Vua cũng như bảo vệ lợi ích quốc gia.
Một thời gian sau đó, vào thế kỷ XVI - XVII, Viện công tố được thành lập ở nhiều nước Châu Âu, như: Italia, Hà Lan, Đức, Nga. Nhờ các cuộc cách mạng chính trị, giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị, đã xoá bỏ quan hệ sản xuất phong kiến và Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản ra đời. Trong Nhà nước tư sản, việc thực hiện quyền lực nhà nước đã có sự tách bạch rõ ràng, quyền tư pháp từng bước được hoàn thiện, vai trò của Toà án ngày càng được đề cao; Viện công tố trở thành người đại diện cho quyền lợi công cộng để đưa vụ án ra Toà án nhằm bảo vệ lợi ích Nhà nước và bảo đảm sự tuân thủ trật tự công cộng. Trong lĩnh vực hình sự, vai trò của công tố luôn luôn là một bên trong vụ án, nhân danh Nhà nước để cáo buộc người phạm tội.
Căn cứ vào vị trí của cơ quan công tố trong bộ máy nhà nước tư sản, có thể thấy, về cơ bản, có hai nhóm sau: - Nhóm thứ nhất: Là các nước mà ở đó, VKS (hay cơ quan công tố) nằm trong tổ chức của Bộ Tư pháp, điển hình như các nước Mỹ, Pháp, Bỉ, Nhật … 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nhóm thứ hai: Là các nước mà ở đó, VKS (hay cơ quan công tố) nằm trong thành phần của hệ thống tư pháp, được đặt tại các tòa án, nhưng hoàn toàn độc lập với tòa án về mặt chức năng, như tại các nước Tây Ban Nha, Bungary, Columbia … Còn ở Việt Nam, tuy cũng có một vị trí độc lập (tương đối) trong bộ máy nhà nước như cơ quan công tố trong bộ máy nhà nước tư sản, song một trong những điểm khác biệt lớn nhất của cơ quan VKS so với cơ quan công tố trong bộ máy nhà nước tư sản lại là ở vị trí của nó, đó là việc nó chỉ phụ thuộc trực tiếp và duy nhất vào một cơ quan, đó là Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Sự ra đời của hệ thống cơ quan VKSND ở Việt Nam (với tư cách là một hệ thống cơ quan riêng biệt, trực thuộc Quốc hội) được khởi đầu bằng việc ban hành Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức VKSND năm 1960. Việc thành lập VKSND ở nước ta (cũng như ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây), là sự áp dụng tư tưởng của V. Lênin về tổ chức và hoạt động của VKS được trình bày trong tác phẩm "Bàn về chế độ trực thuộc song trùng và pháp chế" vào điều kiện cụ thể của nước ta.
Theo Lê Nin, pháp chế thì phải thống nhất. Pháp chế không thống nhất thì không thể nào tiến hành công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, không thể bảo vệ và củng cố được chính quyền cách mạng. Yếu tố cản trở mạnh mẽ nhất, trực tiếp nhất đến sự thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa chính là bệnh cục bộ, bản vị, địa phương chủ nghĩa. Muốn đấu tranh chống lại một cách có hiệu quả chủ nghĩa cục bộ địa phương, nhất thiết phải thành lập VKS.
Và, VKS "có quyền và bổn phận chỉ làm một công việc mà thôi, tức là: làm thế nào cho trong toàn nước cộng hoà có một sự nhận thức thật sự nhất trí về pháp chế, dù là ở các địa phương có những đặc điểm và những ảnh hưởng như thế nào chăng nữa". 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có thể nói rằng, những tư tưởng của Lê nin về cơ quan VKS trình bày trong tác phẩm này đã trở thành cơ sở lý luận cơ bản cho việc xây dựng hệ thống VKS ở các nước xã hội chủ nghĩa (trước đây) và ở nước ta từ năm 1960. Như vậy, cơ quan công tố (VKS) là một trong các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước. Tùy theo đặc điểm của từng quốc gia, ở những thời kỳ khác nhau mà cơ quan công tố có vị trí khác nhau trong hệ thống các cơ quan nhà nước.
Có thể thấy những dạng chủ yếu sau: - Cơ quan công tố thuộc Tòa án (cơ quan tư pháp). - Cơ quan công tố thuộc Chính phủ (cơ quan hành pháp). - Cơ quan công tố (VKS) thuộc Quốc hội (cơ quan lập pháp). Vị trí này được thể hiện rõ hơn trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước khác, đặc biệt là với các cơ quan tiến hành tố tụng.
b) Để thực hiện được tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình thì VKS phải thực hiện những hoạt động nhất định và có mối quan hệ mật thiết với các cơ quan hữu quan, trong đó, đặc biệt phải kể đến là các cơ quan tiến hành tố tụng, bao gồm Tòa án và Cơ quan điều tra cùng cấp. Trong mối quan hệ giữa VKS với Cơ quan điều tra, có thể thấy, đây không chỉ là mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan nhà nước nhằm thực hiện chức trách, nhiệm vụ cụ thể của mỗi cơ quan, mà đây còn là mối quan hệ mang tính chất chỉ đạo - phục tùng. Bởi lẽ, VKS không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm chỉ đạo hoạt động điều tra vụ án của chính Cơ quan điều tra. Trên cơ sở kết quả cuộc điều tra (được thể hiện qua Bản kết luận điều tra, trong đó cơ quan điều tra đề nghị truy tố đối với bị can về một hoặc nhiều tội danh theo quy định của Bộ luật hình sự), VKS ra bản cáo trạng truy tố đối với bị can đồng thời chuyển hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng đến Tòa án và đến đây, mối quan hệ giữa VKS với Cơ quan điều tra đã chấm dứt.
Một mối qua 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hệ mới mang tính chủ đạo được phát sinh, đó là mối quan hệ giữa VKS với Tòa án. Tòa án, theo quy định của pháp luật Việt Nam cũng như trên thế giới, là cơ quan duy nhất có thẩm quyền nhân danh nhà nước để xét xử đối với các hành vi phạm tội và người đã thực hiện tội phạm, bị truy tố bằng một quyết định truy tố của VKS. Có thể thấy, bằng quyết định truy tố của VKS (thể hiện tại bản cáo trạng) đã làm phát sinh, làm khởi động một giai đoạn tố tụng mới, đó chính là giai đoạn xét xử hình sự sơ thẩm của Tòa án. Nếu như không có quyết định truy tố của VKS thì sẽ không có hoạt động xét xử của Tòa án.
Và ngược lại, nếu không có hoạt động xét xử của Tòa án thì việc truy tố của VKS trở nên vô nghĩa. Hơn thế nữa, VKS còn có chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, mà cụ thể ở đây là kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án, nhằm góp phần đảm bảo cho hoạt động xét xử của Tòa án nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật. Như vậy, mối quan hệ giữa VKS và Tòa án là mối quan hệ hữu cơ, ràng buộc và chế ước lẫn nhau. c) Xét xử hình sự sơ thẩm là giai đoạn trung tâm của tố tụng hình sự, bởi lẽ: Phiên toà hình sự sơ thẩm là nơi vụ án lần đầu tiên được đưa ra xét xử công khai (trừ các trường hợp phải xử kín theo quy định của pháp luật).
Ở các giai đoạn tố tụng trước đó (giai đoạn khởi tố, giai đoạn điều tra và giai đoạn truy tố), mặc dù theo các quy định của pháp luật hiện hành thì các hoạt động TTHS đều được tiến hành một cách công khai.