Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ 1. KHÁI QUÁT VỀ TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ 1. Khái niệm và đặc điểm của Trọng tài thƣơng mại quốc tế Khái niệm Trọng tài thương mại quốc tế Trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay, TTTMQT được coi là một phương thức GQTC phổ biến và hiệu quả nhất; việc sử dụng Trọng tài đem lại cho các thương nhân rất nhiều tiện ích khi tham gia vào đời sống thương mại quốc tế; vậy, TTTMQT là gì? Để hiểu rõ khái niệm "Trọng tài thương mại quốc tế", cần hiểu tính "thương mại" và "quốc tế" trong khái niệm này. Theo phần chú thích tại Điều 1 của Luật mẫu UNCITRAL quy định: Khái niệm thương mại cần phải được giải thích theo nghĩa rộng, bao gồm các vấn đề phát sinh từ tất cả các quan hệ có bản chất thương mại, dù là có hợp đồng hay không có hợp đồng.
Quan hệ có bản chất thương mại bao hàm nhưng không chỉ giới hạn đối với các giao dịch sau đây: bất kỳ giao dịch buôn bán nào nhằm cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hay dịch vụ, hợp đồng phân phối, đại diện thương mại hoặc đại lý, các công việc sản xuất, thuê máy móc thiết bị, xây dựng, tư vấn thiết kế cơ khí, li-xăng (mua bán sáng chế phát minh), đầu tư, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, các hợp đồng khai thác hoặc chuyển nhượng, liên doanh và các hình thức khác của hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh, vận tải hàng hóa hoặc hành khách bằng đường không, đường biển, đường sắt hoặc đường bộ [40, Điều 1]. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khái niệm này tuy không được chính thức đưa vào một điều khoản nào mà nằm ở phần chú thích của Luật mẫu UNCITRAL nhưng đây cũng được coi là một gợi ý cho các nước khi quy định phạm vi khái niệm thương mại trong luật quốc gia của mình. Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển cao, thường sử dụng khái niệm thương mại và quy định phạm vi của nó khá rõ ràng trong các văn bản pháp luật với phạm vi rộng. Các quan hệ thương mại được phân biệt với các quan hệ dân sự ở mục đích của chúng: các quan hệ thương mại là các quan hệ nhằm mục đích thu lợi nhuận còn các quan hệ dân sự là các quan hệ chỉ nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của cá nhân.
Chẳng hạn, khiếu nại của người mua đối với người bán được coi là quan hệ thương mại nhưng nếu là khiếu nại của người tiêu dùng đối với người bán thì lại là quan hệ dân sự. Ở Việt Nam, Luật thương mại năm 2005 quy định: Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế xã hội. Dịch vụ thương mại gồm những dịch vụ gắn với việc mua bán hàng hóa. Xúc tiến thương mại là hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ thương mại [23, Điều 5].
Quy định này có nghĩa khái niệm thương mại được hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ là các hoạt động mua bán hàng hóa và những hoạt động gắn liền với việc mua bán hàng hóa. Ở Trung quốc cũng vậy, khái niệm "thương mại" được hiểu theo nghĩa hẹp truyền thống. Do đó, để mở rộng phạm vi các vấn đề thuộc thẩm quyền xét xử của Trọng tài, năm 1989, Trung quốc đã đổi tên Trung tâm TTTMQT (thành lập năm 1956) thành Trung tâm TTTM và kinh tế quốc tế. Về lý luận, Trung Quốc vẫn duy trì khái niệm "thương mại" theo nghĩa hẹp, chưa phân 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com biệt rõ ràng khái niệm "thương mại" và "kinh tế".
Tuy nhiên, Trung tâm Trọng tài này của Trung Quốc có thẩm quyền giải quyết các vấn đề gần với khái niệm thương mại theo Luật mẫu UNCITRAL. Như vậy, khái niệm "thương mại" ở những nước khác nhau có thể là không thống nhất, song sự không thống nhất này được quốc tế công nhận và tôn trọng như trong Công ước NewYork 1958 ở Điều 1 khoản 3 có nêu: "Quốc gia đó cũng có thể tuyên bố chỉ áp dụng công ước đối với các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật, theo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng, mà pháp luật của quốc gia đó quy định là quan hệ pháp luật thương mại" [17]. Hay như trong Công ước Giơnevơ 1927 cũng quy định: "Mỗi nước tham gia hợp đồng có thể giới hạn nghĩa vụ của mình đối với hợp đồng được coi là hợp đồng thương mại do luật quốc gia quy định" [16]. Thuật ngữ "quốc tế" được sử dụng để đánh dấu sự khác biệt giữa Trọng tài mang tính quốc gia - Trong tài trong nước và Trong tài vượt qua biên giới của quốc gia - Trong tài quốc tế.
Các yếu tố nước ngoài trong thương mại quốc tế được xác định qua ba dấu hiệu: chủ thể trong quan hệ thương mại là các bên có quốc tịch khác nhau hoặc có trụ sở ở các nước khác nhau; sự kiện làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ thương mại xảy ra ở nước ngoài; và đối tượng của quan hệ thương mại như hàng hóa, dịch vụ, hoặc các đối tượng khác ở nước ngoài. Về bản chất của tranh chấp quốc tế, trong Nghị định thư Giơnevơ 1927 quy định rằng tranh chấp quốc tế là những tranh chấp trong đó có chứa yếu tố nước ngoài. Hiện nay, thuật ngữ "quốc tế" trong khái niệm TTTMQT được mở rộng ra rất nhiều. Các tài liệu của Phòng Thương mại quốc tế có nói rõ về điều này, chẳng hạn như trong ấn phẩm "The International Solution to International Business Disputes" của Phòng Thương mại quốc tế xuất bản số 301 năm 1977 có ghi: "Khi hợp đồng được kí kết giữa hai công dân của cùng một nước nhưng việc thực hiện hợp đồng lại ở một nước khác hoặc khi hợp 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đồng kí kết giữa Nhà nước và chi nhánh của một công ty nước ngoài trong việc kinh doanh của nước đó thì cũng được coi là hợp đồng mang tính quốc tế".
Để phù hợp với xu hướng kinh tế hiện nay, luật quốc gia nhiều nước cũng mở rộng khái niệm "quốc tế" trong hợp đồng thương mại quốc tế. Việc hiểu thuật ngữ "quốc tế" theo nghĩa rộng cũng được tìm thấy trong Luật TTTMQT của Pháp ban hành ngày 12/5/1981. Điều 1492 trong bộ luật này định nghĩa "Trọng tài sẽ là trọng tài thương mại quốc tế khi liên quan đến lợi ích của thương mại quốc tế" [50], liên quan đến định nghĩa này, bộ luật còn công nhận định nghĩa do Tòa án tối cao Pháp đưa ra trước đó: "định nghĩa này bao trùm sự vận chuyển hàng hóa hoặc tiền tệ từ một nước này sang một nước khác, cùng với việc coi trọng những yếu tố khác như quốc tịch các bên, nơi kết thúc thực hiện hợp đồng". Trong Công ước La-Hay năm 1988, theo đó: "Trọng tài là nhằm để giải quyết những bất đồng giữa các bên thông qua một người thứ ba do chính các bên lựa chọn trên cơ sở tôn trọng luật pháp".
Hiệp định La-Hay 1907 qui định: "Trọng tài quốc tế có đối tượng giải quyết là những tranh chấp giữa các quốc gia qua sự can thiệp của những trọng tài viên do các quốc gia tranh chấp tự chọn và đặt trên cơ sở của sự tôn trọng luật pháp". Theo giáo sư Ph.Farrchar thuộc trường đại học Pans II thì: "Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp, theo đó các bên giao cho một cá nhân (trọng tài viên) thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh giữa họ với nhau". Luật sư tòa thượng thẩm Paris Didier Skonicki định nghĩa ngắn gọn: "Trọng tài là tòa án tư, do ý chí của đôi bên tranh chấp. Nó cũng xét xử như tòa án nhà nước".
Hiện nay, việc coi bản chất của tranh chấp quốc tế là yếu tố để xác định TTTMQT được nhiều nước áp dụng. Bên cạnh đó, quốc tịch các bên cũng là một yếu tố để xác định TTTMQT. Công ước Châu Âu năm 1961 ở Điều 1 khoản 1 mục (a) quy định: "Thỏa thuận trọng tài được thực hiện nhằm giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các tự nhiên nhân hay giữa các pháp nhân trong thương mại quốc tế; 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khi thực hiện thỏa thuận này, đó sẽ là ở nơi cư trú thường xuyên của người định cư hoặc là nơi của những nước tham gia hợp đồng", có nghĩa thỏa thuận Trọng tài sẽ được thực hiện ở nơi các cá nhân thường xuyên cư trú hoặc tại nơi đăng kí kinh doanh, nơi tiến hành hoạt động kinh doanh hay liên doanh, liên kết thậm chí cả ở nơi pháp nhân điều hành quản lý công ty đó. Còn theo Công ước NewYork 1958 sẽ công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài được tuyên tại lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia được yêu cầu công nhận và thi hành quyết định.
Hai công ước trên đều quy định việc thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài về tranh chấp giữa hai thể nhân và pháp nhân có quốc tịch khác nhau tại một trong hai nước có thể nhân hay pháp nhân đó tham gia vào tranh chấp. Như vậy, sự khác nhau về quốc tịch của các bên khẳng định bản chất quốc tế của tranh chấp thương mại giữa các bên đó. Theo giáo trình Tư Pháp quốc tế - Trường Đại học Luật Hà Nội, xuất bản năm 2006, thì "Trọng tài quốc tế là một phương pháp giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài, mà trong đó các bên tranh chấp, thỏa thuận, lập ra hoặc chỉ định ra một bên thứ ba và giao cho bên thứ ba đó quyền được phán xét tranh chấp của họ, phán xét này buộc các bên phải thực hiện" [35]. Theo Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp năm 2006, định nghĩa, "Trọng tài quốc tế là cơ quan hoặc phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thuộc lĩnh vực điều chỉnh của tư pháp quốc tế mà pháp luật cho phép giải quyết bằng trọng tài".