Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật về vai trò của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp Kinh doanh thƣơng mại. Chương 2: Thực trạng vai trò của Tòa án trong giải quyết tranh chấp Kinh doanh thƣơng mại – Qua thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm thực hiện vai trò của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƢƠNG MẠI 1.
Tranh chấp kinh doanh thƣơng mại và các phƣơng thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại 1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, dƣới sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng thì tranh chấp trong kinh doanh hay còn gọi là tranh chấp kinh doanh thƣơng mại là một thuật ngữ quen thuộc của đời sống kinh tế xã hội hiện nay. Tổ chức Thƣơng mại Quốc tế (WTO) chính thức ra đời kể từ ngày 1/1/1995 là kết quả của Vòng đàm phán Urugoay (1986-1995) với tiền thân là Hiệp định chung về thuế quan và thƣơng mại (GATT 1947). WTO đƣợc coi nhƣ một thành công đặc biệt trong sự phát triển thƣơng mại và pháp lý cuối thế kỷ XX với một hệ thống đồ sộ các hiệp định, thoả thuận, danh mục nhƣợng bộ thuế quan điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ thƣơng mại của các quốc gia thành viên.
Với các mục tiêu đầy tham vọng là thúc đẩy tiến trình tự do hoá thƣơng mại trên toàn cầu, nâng cao mức sống của ngƣời dân các nƣớc thành viên và giải quyết các bất đồng về lợi ích giữa các quốc gia trong khuôn khổ hệ thống thƣơng mại đa biên, sự vận hành của WTO đã và sẽ có tác động to lớn đối với tƣơng lai lâu dài của kinh tế thế giới cũng nhƣ kinh tế của từng quốc gia. Theo tính toán, có tới trên 95% hoạt động thƣơng mại trên thế giới hiện nay đƣợc điều chỉnh bởi các Hiệp định của Tổ chức này. Để đảm bảo việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các qui định trong Hiệp định, ngăn chặn các biện pháp thƣơng mại vi phạm các Hiệp định, góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu to lớn của WTO, một cơ chế giải quyết các tranh chấp trong khuôn khổ tổ chức này đã đƣợc thiết lập. Cơ chế này là sự hiện thực hoá xu thế pháp lý hoá quá trình giải quyết tranh chấp thƣơng mại quốc tế ngày nay, dần 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dần thay thế các phƣơng thức giải quyết tranh chấp mang tính chính trị, ngoại giao trong lĩnh vực này.
Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO) quan niệm tranh chấp thƣơng mại là tranh chấp ở phạm vi quốc tế, đƣợc dùng để chỉ các bất đồng giữa các nƣớc thành viên WTO khi một nƣớc cho rằng quyền lợi của mình theo một hiệp định nào đó của WTO bị triệt tiêu đi hay bị xâm hại do việc một nƣớc thành viên khác áp dụng một biện pháp thƣơng mại hoặc không thực hiện một nghĩa vụ (khiếu kiện vi phạm); hoặc khi việc đạt đƣợc mục tiêu của hiệp định bị cản trở, triệt tiêu hoặc suy giảm quyền lợi thƣơng mại do biện pháp thƣơng mại của một thành viên bất kể là biện pháp này có trái với nghĩa vụ thành viên hay không (khiếu kiện không có vi phạm); hoặc khi có bất kỳ tình tiết nào đem lại thiệt hại về quyền lợi hay cản trở đạt mục tiêu hiệp định (khiếu kiện tình huống). Hơn nữa, một bất đồng chỉ trở thành một tranh chấp của WTO khi nó đƣợc chính thức thông báo cho Ban thƣ ký WTO. Nhƣ vậy, trong khuôn khổ WTO, tranh chấp thƣơng mại đƣợc hiểu là bất đồng giữa các thành viên WTO liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo các Hiệp định và thỏa thuận của WTO và bất đồng này đƣợc thông báo chính thức cho Ban thƣ ký WTO. Từ định nghĩa trên, có thể rút ra một số đặc điểm của tranh chấp thƣơng mại trong khuôn khổ WTO nhƣ sau: Thứ nhất, tranh chấp thƣơng mại trong khuôn khổ WTO là tranh chấp thƣơng mại quốc tế liên quốc gia, liên chính phủ; Thứ hai, các bên tranh chấp là thành viên WTO.
Các tổ chức quốc tế, các cá nhân, pháp nhân… không thể là một bên của tranh chấp; Thứ ba, khách thể của tranh chấp luôn liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo các hiệp định và thỏa thuận của WTO; Thứ tƣ, tranh chấp phải đƣợc giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO (DSM) [14]. Việt Nam đã là thành viên của WTO nên có thể sử dụng cơ chế này cho các tranh chấp thƣơng mại có thể phát sinh giữa Việt Nam với các thành viên WTO khác. Trong pháp luật thực định Việt Nam trƣớc năm 1979 chƣa có một khái niệm cụ thể về tranh chấp kinh doanh thƣơng mại. Tại Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16/3/1994 và Nghị định số 116/CP ngày 05/9/1994 của Chính Phủ 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com về Tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế cũng chỉ mới liệt kê các tranh chấp đƣợc coi là tranh chấp kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa Kinh tế và trọng tài Kinh tế.
Luật Thƣơng mại năm 1997 lần đầu tiên đề cập đến thế nào là Tranh chấp thƣơng mại. Theo đó tại Điều 238 Luật Thƣơng mại năm 1997 đã định nghĩa “Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại”. Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới thì khái niệm này khá đơn giản và có nội hàm hẹp, không theo kịp với sự phát triển của kinh tế thế giới. Có nhiều tranh chấp phát sinh trong các hoạt động kinh tế về bản chất của nó hoàn toàn có thể xem đó là tranh chấp thƣơng mại, chứ không phải bó hẹp trong việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại mà Luật thƣơng mại 1997 đã định nghĩa.
Pháp lệnh trọng tài thƣơng mại ngày 25/2/2003 ra đời nhằm “góp phần giải quyết các vụ tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Việc Pháp lệnh trọng tài thƣơng mại năm 2003 đƣa ra khái niệm “hoạt động thƣơng mại” đã dần tiếp cận với khái niệm thƣơng mại trong Luật mẫu của Uỷ ban Luật Thƣơng mại quốc tế của Liên Hiệp quốc (UN Commission on International Trade Law: UNCITRAL). Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, khái niệm kinh doanh theo Luật doanh nghiệp năm 2014 là “việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. Theo Luật thƣơng mại 2005 “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Về cơ bản hai khái niệm “kinh doanh” và hoạt động thƣơng mại” đã đƣợc nêu trong Luật doanh nghiệp năm 2014 và Luật thƣơng mại 2005 là tƣơng thích với nhau và cũng phù hợp với khái niệm thƣơng mại 7 theo Luật mẫu về thƣơng mại của Uỷ ban Luật Thƣơng mại quốc tế của Liên Hiệp quốc (UN Commission on International Trade Law: UNCITRAL). Nhƣ vậy, có thể thấy khái 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com niệm thƣơng mại theo quy định của pháp luật Việt Nam đã đƣợc mở rộng, phù hợp với khái niệm thƣơng mại trong Luật mẫu của Liên Hợp Quốc về trọng tài (UNCITRAL Model Law), Hiệp định Thƣơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ và WTO; Qua đó luật pháp Việt Nam đang từng bƣớc bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể đang tham gia vào các hoạt động thƣơng mại, cũng nhƣ bảo đảm sự bình đẳng trong việc giải quyết tranh chấp và trong vấn đề công nhận và thi hành các phán quyết của trọng tài nƣớc ngoài tại Việt Nam. Khái niệm “hoạt động thương mại” quy định tại Pháp lệnh Trọng tài thƣơng mại đã thể hiện sự đột phá trong việc tiếp cận các chuẩn mực chung của thông lệ và pháp luật quốc tế. Vì vậy, khái niệm hoạt động thƣơng mại đã đƣợc thể chế hóa trong các văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực thƣơng mại.
Khi các chủ thể cùng nhau tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trƣờng sẽ xảy ra những bất đồng, mâu thuẫn về lợi ích dẫn đến sự tranh chấp. Mặt khác có thể hiểu TCKDTM là sự mâu thuẫn về quyền lợi phát sinh khi tham gia hoạt động KDTM khi một bên cho rằng quyền và lợi ích của mình bị vi phạm yêu cầu phía bên kia khắc phục nhƣng không nhận đƣợc sự đồng ý. Theo đó có thể hiểu: “Tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại” [24] Nhƣ vậy, tranh chấp thƣơng mại phải hội tụ đủ các yếu tố sau đây: - Thứ nhất: TCKDTM trƣớc hết là những mâu thuẫn (bất đồng) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ cụ thể. - Thứ hai: những mâu thuẫn (bất đồng) đó phải phát sinh từ hoạt động thƣơng mại.
- Thứ ba: Những mâu thuẫn (bất đồng) đó phát sinh chủ yếu giữa các thƣơng nhân. Ngoài thƣơng nhân, trong một số trƣờng hợp nhất định nhƣ cá nhân, tổ chức khác có liên quan đến hoạt động thƣơng mại cũng có thể là chủ thế của tranh chấp KDTM. BLTTDS 2015 quy định về những tranh chấp về KDTM thuộc thẩm quyền của Tòa án (Điều 30) và quy định về những yêu cầu về KDTM thuộc thẩm quyền của Tòa án (Điều 31). Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có đã sửa đổi, bổ sung nhằm làm rõ các tranh chấp về kinh doanh thƣơng mại phù hợp với Luật thƣơng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mại, Luật doanh nghiệp., phân biệt giữa tranh chấp thƣơng mại với tranh chấp dân sự.