Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA THỎA MÃN NHU CẦU TỰ CHỦ, PHONG CÁCH LẮNG NGHE VÀ SỰ HÀI LÒNG TRONG MỐI QUAN HỆ LÃNG MẠN 1.1 Khái niệm công cụ 1.1 Mối quan hệ lãng mạn (romantic relationship) Trọng tâm của nghiên cứu này sẽ tập trung vào mối quan hệ cụ thể đó là mối quan hệ lãng mạn của cặp đôi. Thuật ngữ "mối quan hệ lãng mạn" nói đến một sự tương tác tự nguyện đang diễn ra với sự công nhận lẫn nhau (mutually) giữa hai người. So với các mối quan hệ đồng đẳng khác, mối quan hệ lãng mạn thường có độ mãnh liệt đặc trưng, thể hiện rõ qua biểu hiện của yêu thương và các hành vi mang tính tình dục đang diễn ra hoặc có thể thấy trước. Định nghĩa này áp dụng cho cả trường hợp mối quan hệ đồng tính và dị tính (Collins, Welsh & Furman, 2009).2 Sự hài lòng trong mối quan hệ (relationship satisfaction) Sự hài lòng trong mối quan hệ được xác nhận là mức độ gần gũi hoặc chất lượng của cặp đôi, đặc biệt hơn là mức độ hạnh phúc và sự hài lòng trong mối quan hệ (Burns & Sayers, 1988).
Theo nghiên cứu đã dẫn, Burns và Sayers cho rằng việc đánh giá sự hài lòng trong mối quan hệ bao gồm các yếu tố: cách giao tiếp và mức độ sẵn lòng chia sẻ, khả năng giải quyết xung đột và tranh cãi, mức độ tình cảm và quan tâm, sự thân mật và gần gũi, hài lòng với vai trò cá nhân trong mối quan hệ, hài lòng với vai trò là người còn lại và hài lòng chung với mối quan hệ.3 Các phong cách lắng nghe (listening styles) Lắng nghe liên cá nhân là một hoạt động diễn ra trong đối thoại, có nhiều khía cạnh và đa dạng chức năng tùy theo tình huống cụ thể và ngữ cảnh của cuộc đối thoại (Worthington & Bodie, 2018). Vì những lý do này, các nhà nghiên cứu về lắng nghe cho rằng chỉ có một định nghĩa duy nhất về lắng nghe là không thực tế và được khuyến nghị rằng, các nhà nghiên cứu nên xác định các đặc điểm cốt lõi của việc lắng nghe phù hợp với bối cảnh cụ thể đang nghiên cứu (Worthington & Bodie, 2018, trang 11). Mô tả cụ thể về đặc điểm và ý nghĩa của các phong cách lắng nghe (lắng nghe để thấu hiểu và lắng nghe để phản ứng của cặp đôi trong mối quan hệ 1 lãng mạn) từ quan điểm của các học thuyết nhân văn và xử lý kép (dual processing) được trình bày trong phần bên dưới. Lắng nghe để thấu hiểu (listening to understand) là một hình thức đặc trưng của phong thái lắng nghe chủ động, kiên nhẫn, không phán xét và thấu cảm.
Nó đòi hỏi người nghe phải tập trung chú ý và nhạy cảm hơn với thông điệp có lời, không lời của đối tác. Bằng cách này, người lắng nghe vừa có thể "thấy" được các động cơ, nhu cầu tiềm ẩn để có thể "hiểu" hơn những gì đối tác đang cố gắng truyền đạt và vừa đánh giá được những điều đối tác đang cảm thấy về những gì họ đang giao tiếp. Thái độ lắng nghe để thấu hiểu được biểu hiện qua sự tập trung chú ý, cởi mở và hiện diện. Đặc biệt, các hành vi như cử chỉ có lời (ví dụ, đặt câu hỏi mở, hỏi về cảm xúc,…) và không lời (ví dụ, giao tiếp mắt, gật đầu,…) được sử dụng là để phản hồi, để tìm kiếm sự rõ ràng hơn, để hiểu hơn về những gì đối tác đang nói.
Hơn nữa, khi lắng nghe để thấu hiểu, người nghe cho phép bản thân gạt bỏ những định kiến của mình về cách thức và nội dung mà đối tác đang cố gắng chia sẻ, thay vào đó là một thái độ cởi mở trước nỗ lực tỏ bày các quan điểm chân thật của người đối diện. Do đó, phong cách lắng nghe này tạo nên một bầu không khí khuyến khích và nuôi dưỡng sự giao tiếp cởi mở, chân thành và đón nhận, trong bầu không khí này các khó khăn có thể được khám phá theo cách không đối đầu và là nơi các cá nhân trong cặp đôi có thể học hỏi cùng với nhau hoặc giúp họ tạo ra những trải nghiệm đáng nhớ do đã có kết nối sâu sắc cùng nhau (Doell và Reid 2002). Ngược lại, lắng nghe để phản ứng (listening to respond) là hình thức đặc trưng của lắng nghe có ít chú ý và mang tính thói quen hơn, người lắng nghe theo phong cách này có vẻ dễ dàng bỏ qua ý định hoặc mục đích chia sẻ của đối tác, thay vào đó họ chỉ tập trung vào nội dung của thông tin, những kỳ vọng hoặc diễn giải của riêng họ về những gì đối tác đang muốn nói. Cụ thể hơn, người nghe dường như chỉ nghe phần lời được nói ra, hay nói cách khác, chỉ nghe phần nghĩa đen của lời thay vì nỗ lực tìm hiểu các ẩn ý hoặc nhu cầu ngầm ẩn mà đối tác đang cố gắng truyền đạt, hoặc bị cuốn vào những điều họ nghĩ là đối tác đang muốn chia sẻ mà không dừng lại để kiểm tra xem những giải thích này có mức độ phù hợp như thế 2 nào cho đối tác.
Thái độ lắng nghe để phản ứng biểu hiện qua sự mất tập trung, hay hành vi phản hồi hời hợt. Các hành vi có lời (ví dụ: đặt câu hỏi, kết luận sự việc,…) hoặc không lời (ví dụ: tránh giao tiếp mắt, ngáp, biểu cảm trên khuôn mặt,…) chỉ nhằm hướng đến xác nhận thông tin đã xảy ra và làm rõ chi tiết về những gì đang được chia sẻ, thay vì tạo điều kiện để "hiểu" sâu hơn về những suy nghĩ, cảm xúc tiềm ẩn mà đối tác đang có. Lắng nghe để phản ứng còn có đặc điểm là dễ dàng và thụ động, trong đó người nghe chỉ có mục đích hiểu được những gì đối tác của họ đang nói một cách hời hợt bởi vì họ cảm thấy rằng họ đã "hiểu rồi". Thế nên họ rất nhanh thực hiện các hành vi hồi đáp như ngắt lời để chỉnh sửa (to correct) đối phương hoặc phản ứng phòng vệ sau khi đối tác của họ nói xong.
Bên cạnh đó, người nghe có xu hướng dễ sao nhãng, họ bận tâm vào suy nghĩ của riêng mình về những điều đối tác đang chia sẻ; cũng như chú trọng nhiều hơn vào việc bày tỏ ý kiến của bản thân hơn là thể hiện mình đã hiểu ý kiến của đối tác. Hay nói cách khác, người lắng nghe để phản ứng có xu hướng phản hồi với các tiểu tiết của người nói và bỏ lỡ bức tranh lớn hơn để có thể hiểu và kết nối với đối tác một cách sâu sắc. Hành vi lắng nghe để phản ứng sẽ gây ra vấn đề trong bối cảnh một cuộc tương tác. Thông thường một người sẽ cảm thấy không được lắng nghe khi người đối diện có thói quen tin rằng "mình đã biết về điều người kia sẽ nói và sẵn sàng đưa ra phản ứng của riêng mình".
Chỉ lắng nghe để phản ứng, và đặc biệt là khi thiếu khả năng lắng nghe để thấu hiểu, sẽ tạo ra một môi trường đối đầu giữa hai người trong mối quan hệ, vì từng cá nhân không thể chia sẻ được suy nghĩ, cảm xúc của bản thân, cũng như vì xung đột và hiểu sai chiếm ưu thế trong bầu không khí. Tóm lại, lắng nghe để thấu hiểu và lắng nghe để phản ứng là hai khía cạnh được đo lường trong nghiên cứu này nhằm lượng hóa được tổng mức độ mà một người lắng nghe theo phong cách nào trong các cuộc trò chuyện (Doell và Reid 2002).4 Thỏa mãn nhu cầu tự chủ (autonomy need satisfaction) Thỏa mãn nhu cầu tự chủ được định nghĩa là khi các cá nhân tin rằng những gì họ đang làm trong mối quan hệ lãng mạn đều phản ánh cảm giác tự do lựa chọn hành vi để thể hiện bản thân và cư xử phù hợp với các niềm tin, giá trị và cảm xúc của họ (Ryan & Deci, 2002; Gagn & Deci, 2005).2 Lý thuyết tiếp cận 1.1 Cơ sở lý thuyết của sự hài lòng trong mối quan hệ lãng mạn ở người trưởng thành trẻ Lý thuyết phát triển tâm lý xã hội của Erikson nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc hình thành các mối quan hệ lãng mạn ở giai đoạn trưởng thành trẻ. Theo ông, dám thiết lập mối quan hệ lãng mạn giai đoạn này sẽ dẫn đến việc cảm giác thân mật, thuộc về một mối quan hệ khác được phát triển và điều này rất quan trọng đối với sức khỏe tâm lý nói chung. Bởi vì một mối quan hệ lãng mạn ngoài việc mang đến cho cá nhân cảm giác hài lòng và thỏa mãn, nó còn hỗ trợ về mặt cảm xúc, sự đồng hành và cảm giác thân thuộc; những yếu tố này góp phần tạo nên cảm giác hạnh phúc tổng thể cũng như sức khỏe tâm lý lành mạnh của cá nhân.
Hơn thế nữa, chất lượng của mối quan hệ lãng mạn đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành các mối quan hệ trong tương lai, bởi vì những trải nghiệm tích cực và sự hài lòng trong một mối quan hệ lãng mạn đóng vai trò là hình mẫu cho các mối quan hệ lành mạnh khác được phát triển. Các cá nhân có thể học cách giao tiếp, tin tưởng và thỏa thuận với đối tác, đây là những kỹ năng cần thiết để duy trì mối quan hệ lành mạnh. Không những vậy, khi cá nhân ở trong mối quan hệ mà họ cảm thấy hài lòng thì cá nhân có thể hướng đến việc phát triển bản sắc đích thực (Erikson, 1968). Bên cạnh đó, học thuyết động lực trong mối quan hệ (Relationship motivation theory - RMT ) cho rằng động lực tự chủ là một yếu tố dự báo quan trọng về sự hài lòng trong mối quan hệ và sức khỏe tâm lý cho cả hai đối tác trong mối quan hệ lãng mạn (Ryan & Deci, 2017).
Một nguyên lý quan trọng của RMT là sự quan tâm và kết nối mà một người dành cho đối tác của mình, nó được thực hiện 4 một cách tự do và hết lòng (tức là tự chủ), trái ngược với sự ép buộc hoặc bị ép buộc (tức là bị kiểm soát). Do đó, việc trải nghiệm động lực tự chủ để tham gia vào mối quan hệ sẽ gắn liền với sự thỏa mãn nhu cầu của cá nhân, hơn là tham gia vào mối quan hệ để nhận phần thưởng bên ngoài hoặc áp lực bên trong (Ryan & Deci, 2017). Bằng chứng ban đầu cho giả định rằng động lực tự chủ của các cặp đôi là để duy trì mối quan hệ, đồng thời có thể nâng cao hạnh phúc cá nhân và cảm giác hài lòng về mối quan hệ đã được ghi nhận trong nghiên cứu cắt ngang (Blais và cộng sự, 1990).