Luận văn thạc sĩ vai trò của thẩm phán trong thu thập chứng cứ xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự qua thực tiễn áp dụng tại tòa án nhân dân quận hà đông thành phố hà nội 03

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vai trò của thẩm phán trong thu thập chứng cứ xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự qua thực tiễn, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2015

122
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG THU THẬP CHỨNG CỨ, XÂY DỰNG HỒ SƠ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

1.1. Khái niệm vai trò của Thẩm phán trong hoạt động TTCC, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS

1.1.1. Khái niệm Thẩm phán

1.1.2. Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự

1.1.3. Những nguyên tắc tố tụng dân sự liên quan đến vai trò của Thẩm phán

1.1.3.1. Nguyên tắc pháp chế XHCN
1.1.3.2. Nguyên tắc tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số
1.1.3.3. Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
1.1.3.4. Nguyên tắc CCCC và chứng minh trong TTDS
1.1.3.5. Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự

1.1.4. Mối quan hệ của Thẩm phán với những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng

1.1.5. Lịch sử hình thành và phát triển các quy định pháp luật Việt Nam về vai trò của Thẩm phán

1.1.5.1. Giai đoạn từ 1945 đến năm 1959
1.1.5.2. Giai đoạn từ 1959 đến năm 1980
1.1.5.3. Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992
1.1.5.4. Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2004
1.1.5.5. Giai đoạn từ năm 2005 đến nay

1.1.6. Quy định pháp luật của một số nước trên thế giới về vai trò của Thẩm phán trong TTDS

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ, XÂY DỰNG HỒ SƠ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

2.1. Thẩm phán thu thập chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

2.1.1. Thẩm phán thông báo về việc thụ lý vụ án

2.1.2. Thẩm phán yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ để có cơ sở giải quyết vụ án

2.1.2.1. Yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ
2.1.2.2. Yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án

2.1.3. Thẩm phán thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ

2.1.3.1. Các trường hợp Thẩm phán áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ
2.1.3.2. Các biện pháp Thẩm phán áp dụng để thu thập chứng cứ

2.2. Thẩm phán hòa giải để các đương sự thống nhất với nhau về chứng cứ

2.3. Thẩm phán thu thập chứng cứ tại phiên tòa

2.3.1. Thẩm phán thu thập chứng cứ và làm rõ chứng cứ qua phần thủ tục hỏi

2.3.2. Thẩm phán thu thập chứng cứ và củng cố chứng cứ qua phần tranh luận

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ, XÂY DỰNG HỒ SƠ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

3.1. Thực tiễn áp dụng tại quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

3.1.1. Những kết quả đạt được

3.1.2. Những tồn tại, hạn chế. Những yêu cầu hoàn thiện nâng cao vai trò của Thẩm phán trong TTDS

3.2. Những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Thẩm phán trong hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự

3.2.1. Hoàn thiện pháp luật về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự

3.2.2. Đổi mới tổ chức hoạt động của Tòa án trên cơ sở hoàn thiện vai trò độc lập của Thẩm phán

3.2.3. Nâng cao chất lượng, năng lực chuyên môn cũng như phẩm chất, đạo đức của đội ngũ Thẩm phán nhằm khẳng định vai trò của Thẩm phán

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về vai trò của thẩm phán trong thu thập chứng cứ dân sự

Thẩm phán đóng vai trò trung tâm trong quá trình thu thập chứng cứ dân sự. Họ không chỉ là người xét xử mà còn là người chịu trách nhiệm chính trong việc đảm bảo rằng các chứng cứ được thu thập đầy đủ và hợp pháp. Điều này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan mà còn đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong quá trình tố tụng. Việc thẩm phán tham gia vào quá trình thu thập chứng cứ là một yếu tố quan trọng để xây dựng hồ sơ vụ án chính xác và đầy đủ.

1.1. Khái niệm thẩm phán và vai trò trong tố tụng dân sự

Thẩm phán là người được bổ nhiệm để thực hiện chức năng xét xử. Họ có trách nhiệm đảm bảo rằng các quy trình tố tụng được thực hiện đúng theo pháp luật. Vai trò của thẩm phán không chỉ dừng lại ở việc đưa ra phán quyết mà còn bao gồm việc thu thập và đánh giá chứng cứ để đảm bảo tính chính xác của quyết định.

1.2. Quy trình thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự

Quy trình thu thập chứng cứ bao gồm nhiều bước, từ việc yêu cầu các bên cung cấp chứng cứ đến việc thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ cần thiết. Thẩm phán có quyền yêu cầu các bên cung cấp tài liệu, chứng cứ và thực hiện các biện pháp cần thiết để đảm bảo rằng hồ sơ vụ án được xây dựng đầy đủ.

II. Những thách thức trong vai trò của thẩm phán khi thu thập chứng cứ

Mặc dù thẩm phán có vai trò quan trọng trong việc thu thập chứng cứ, nhưng họ cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Những thách thức này có thể đến từ việc thiếu thông tin, sự không hợp tác từ các bên liên quan, hoặc áp lực từ các yếu tố bên ngoài. Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng của thẩm phán trong việc đưa ra quyết định chính xác và công bằng.

2.1. Thiếu thông tin và sự không hợp tác từ các bên

Trong nhiều trường hợp, các bên liên quan có thể không cung cấp đầy đủ chứng cứ hoặc thông tin cần thiết. Điều này đặt ra thách thức lớn cho thẩm phán trong việc xây dựng hồ sơ vụ án. Sự không hợp tác này có thể dẫn đến việc thẩm phán không có đủ căn cứ để đưa ra quyết định.

2.2. Áp lực từ các yếu tố bên ngoài

Thẩm phán có thể phải đối mặt với áp lực từ các yếu tố bên ngoài như dư luận, các tổ chức xã hội hoặc thậm chí là các cơ quan chức năng. Những áp lực này có thể ảnh hưởng đến quyết định của thẩm phán và làm giảm tính độc lập trong quá trình xét xử.

III. Phương pháp nâng cao vai trò của thẩm phán trong thu thập chứng cứ

Để nâng cao vai trò của thẩm phán trong việc thu thập chứng cứ, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc đào tạo và nâng cao năng lực chuyên môn cho thẩm phán là rất cần thiết. Bên cạnh đó, cần có các quy định pháp luật rõ ràng hơn để hỗ trợ thẩm phán trong quá trình thu thập chứng cứ.

3.1. Đào tạo và nâng cao năng lực cho thẩm phán

Đào tạo thường xuyên cho thẩm phán về các quy định pháp luật mới và các kỹ năng thu thập chứng cứ là rất quan trọng. Điều này giúp thẩm phán có thể thực hiện tốt hơn vai trò của mình trong quá trình xét xử.

3.2. Cải cách quy định pháp luật liên quan đến thu thập chứng cứ

Cần có những cải cách trong quy định pháp luật để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho thẩm phán trong việc thu thập chứng cứ. Các quy định này nên rõ ràng và cụ thể hơn để thẩm phán có thể thực hiện quyền hạn của mình một cách hiệu quả.

IV. Ứng dụng thực tiễn vai trò của thẩm phán trong thu thập chứng cứ

Việc áp dụng vai trò của thẩm phán trong thu thập chứng cứ đã được thực hiện tại nhiều tòa án. Những kết quả đạt được từ việc thẩm phán tham gia tích cực vào quá trình thu thập chứng cứ đã góp phần nâng cao chất lượng xét xử. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết để đảm bảo rằng vai trò của thẩm phán được thực hiện một cách hiệu quả.

4.1. Kết quả đạt được từ việc thẩm phán tham gia thu thập chứng cứ

Nhiều vụ án đã được giải quyết một cách công bằng và minh bạch nhờ vào sự tham gia tích cực của thẩm phán trong việc thu thập chứng cứ. Điều này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của các bên mà còn nâng cao uy tín của hệ thống tư pháp.

4.2. Những tồn tại và hạn chế trong thực tiễn

Mặc dù đã có nhiều kết quả tích cực, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế trong việc thực hiện vai trò của thẩm phán. Những hạn chế này cần được nhận diện và khắc phục để nâng cao hiệu quả của quá trình thu thập chứng cứ.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai của vai trò thẩm phán

Vai trò của thẩm phán trong thu thập chứng cứ dân sự là rất quan trọng và cần thiết. Để nâng cao hiệu quả của quá trình này, cần có những cải cách và giải pháp cụ thể. Tương lai, việc nâng cao vai trò của thẩm phán sẽ góp phần quan trọng vào việc cải cách tư pháp và xây dựng một hệ thống pháp luật công bằng và minh bạch.

5.1. Tầm quan trọng của việc nâng cao vai trò thẩm phán

Nâng cao vai trò của thẩm phán không chỉ giúp cải thiện chất lượng xét xử mà còn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan. Điều này là cần thiết để xây dựng niềm tin của người dân vào hệ thống tư pháp.

5.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Cần có những định hướng rõ ràng cho việc phát triển vai trò của thẩm phán trong thu thập chứng cứ. Điều này bao gồm việc cải cách pháp luật, nâng cao năng lực cho thẩm phán và tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

19/08/2025
Luận văn thạc sĩ vai trò của thẩm phán trong thu thập chứng cứ xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự qua thực tiễn áp dụng tại tòa án nhân dân quận hà đông thành phố hà nội 03

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Lý luận chung về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự. Chương 2: Quy định của pháp luật về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự. Chương 3: Thực tiễn áp dụng và giải pháp nâng cao vai trò của Thẩm phán trong hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ vụ án dân sự. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁM TRONG THU THẬP CHỨNG CỨ, XÂY DỰNG HỒ SƠ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 1.

Khái niệm vai trò của Thẩm phán. Khái niệm Thẩm phán TAND có vị trí trung tâm trong các cơ quan tư pháp thực hiện chức năng xét xử. Trong TAND, Thẩm phán là người có vị trí và vai trò then chốt để thực thi chức năng của Tòa án. Xét về lịch sử ra đời thì khái niệm Thẩm phán ra đời khá muộn mặc dù nhiệm vụ xét xử đã có từ rất lâu và không thể thiếu trong bộ máy nhà nước.

Dưới thời kỳ chiếm hữu nô lệ và phong kiến hình thức Nhà nước chủ yếu là quân chủ lập hiến, hoạt động xét xử cũng như hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp đều tập trung vào giai cấp chủ nô và phong kiến mà đại diện là nhà vua. Nhà vua là người nắm toàn bộ quyền hành, đứng đầu Nhà nước ban hành các đạo luật, quy định tổ chức thực hiện và là người có quyền lực cao nhất. Đến thế kỷ XVII, XVIII giai cấp tư sản phát triển mạnh mẽ đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến đã hạn chế dần quyền lực của nhà vua, tiến tới xoá bỏ Nhà nước phong kiến. Trong thời gian này, các học giả tư sản mà tiêu biểu nhất là Montesquieu trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” đã đưa ra luận điểm: Phải tách các hoạt động ban hành pháp luật, hoạt động thực hiện pháp luật và hoạt động xét xử, chia quyền lực nhà nước thành ba loại quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau tạo cơ chế kiềm chế đối trọng lẫn nhau, chống lại tư tưởng độc quyền của một người, hay của một cơ quan nào đó, nắm toàn bộ quyền lực Nhà nước.

Có thể nói sự tách bạch và độc lập giữa Toà án ra khỏi hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp đã hình thành nên một đội ngũ cán bộ mới trong bộ máy nhà nước làm nhiệm vụ xét xử từ xưa đến nay chưa từng có đó là Thẩm phán. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo khái niệm Thẩm phán trong từ điển Tiếng Việt thì: Thẩm phán là người chuyên làm công tác xét xử các loại vụ án. Tại Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm TAND năm 2002 đã định nghĩa: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án”. Từ định nghĩa về Thẩm phán cho thấy Thẩm phán là một chức danh tư pháp được bổ nhiệm theo trình tự thủ tục và tiêu chuẩn do pháp luật quy định chặt chẽ để làm nhiệm vụ xét xử của Tòa án hay chính là thực hiện chức năng của Tòa án (chức năng xét xử nhân danh Nhà nước) thực hiện quyền tư pháp.

Theo quan điểm của TS. Nguyễn Quang Hiền: “Tòa án là một thiết chế không thể tự thực hiện được quyền tư pháp (xét xử) mà phải thông qua con người cụ thể để thay mặt Tòa án thực hiện quyền tư pháp, đó chính là Thẩm phán”[17]. - Thẩm phán TAND ở nước ta gồm có: Thẩm phán TANDTC. Thẩm phán cao cấp.

Thẩm phán trung cấp. Thẩm phán sơ cấp. - Thẩm quyền bổ nhiệm thẩm phán đều do Chủ tịch nước bổ nhiệm. - Về nhiệm kỳ của Thẩm phán: “Nhiệm kỳ đầu của các Thẩm phán là 05 năm; trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc được bổ nhiệm vào ngạch Thẩm phán khác thì nhiệm kỳ tiếp theo là 10 năm.

Ngoài ra, qua định nghĩa về Thẩm phán, ta thấy Thẩm phán cũng được coi là công chức nhà nước. Thẩm phán là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan Nhà nước ở đây là TAND, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Theo pháp luật về cán bộ, công chức hiện hành, Thẩm phán được xếp vào ngạch công chức nhà nước được hưởng mọi quyền lợi, nghĩa vụ và chế độ của công chức nói chung. Theo quan 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điểm của tác giả Nguyễn Minh Sử thì cần phải coi “Thẩm phán là một dạng công chức đặc biệt” [65].

Từ các lý do trên tác giả đưa ra khái niệm về Thẩm phán: “Thẩm phán là công chức danh tư pháp đặc biệt được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng xét xử của Tòa án, nhân danh Nhà nước có vai trò bảo vệ công lý, công bằng và bình ổn các mối quan hệ xã hội”. Với quy định trên thì không có một công chức nào có thể thay thế hoặc thực hiện thay nhiệm vụ của Thẩm phán được. Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động TTCC, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS. TTCC là việc phát hiện, lựa chọn và tập hợp chứng cứ đưa vào hồ sơ vụ án để Tòa án nghiên cứu, đánh giá, sử dụng phục vụ cho việc giải quyết VADS một cách đúng đắn.

Đây là công việc rất quan trọng, tạo cơ sở cho quá trình chứng minh, có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết VADS. Trong TTDS Việt Nam hiện hành, hoạt động TTCC có thể được tiến hành bởi nhiều loại chủ thể tùy thuộc vào vị trí, vai trò, chức năng của từng chủ thể và từng giai đoạn tố tụng khác nhau. Tác giả đề cập đến vai trò TTCC của Thẩm phán khi tiến hành GQVA ở giai đoạn sơ thẩm. Đồng thời với việc quy định nghĩa vụ CCCC của đương sự, BLTTDS năm 2004, đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2011 quy định trách nhiệm TTCC của Tòa án và chỉ được tiến hành trong những trường hợp do Bộ luật này quy định (Điều 6, Khoản 2 Điều 85BLTTDS).

Quy định về trách nhiệm TTCC của Tòa án (Thẩm phán) hay sự cần thiết của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ là xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của Việt Nam; do vậy tác giả đồng ý với quan điểm của Ths. Nguyễn Văn Lin và Ths. Nguyễn Thị Hạnh, xuất phát từ các điều kiện sau đây [22]: Thứ nhất: Hệ thống tư pháp Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo truyền thống pháp luật lục địa. Trong đó, TTDS thể hiện tính chất pha trộn giữa tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi nhưng yếu tố xét hỏi nổi trội hơn.

Thẩm phán được 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phân công GQVA là người trực tiếp xây dựng hồ sơ vụ án và trên cơ sở hồ sơ này để GQVA. Quá trình xác minh, TTCC cũng chính là quá trình xây dựng hồ sơ VADS. Chính vì vậy, hồ sơ VADS là yếu tố có ý nghĩa hết sức quan trọng trong GQVA. Ngoài việc phải đảm bảo việc giải quyết VADS khách quan, công bằng, đúng pháp luật, Thẩm phán còn có trách nhiệm GQVA đúng thời hạn.

Mặt khác, lý luận về chứng cứ cũng cho thấy, Tòa án là cơ quan có nhiệm vụ đánh giá toàn bộ chứng cứ để giải quyết đúng đắn vụ án. Việc đánh giá chứng cứ có đúng đắn, khách quan và toàn diện hay không phụ thuộc vào việc cung cấp, TTCC có đầy đủ, chính xác và đúng pháp luật hay không. Và ở đây, trách nhiệm của Thẩm phán là phải đảm bảo trong hồ sơ vụ án có đầy đủ chứng cứ làm căn cứ cho việc GQVA. Do đó, mặc dù BLTTDS quy định các đương sự có nghĩa vụ CCCC để Tòa án xem xét GQVA, nhưng nếu “phó thác” toàn bộ nghĩa vụ chứng minh cho các đương sự để giải phóng hoàn toàn nghĩa vụ chứng minh của Tòa án, thì sẽ không thực tế trong điều kiện hiện nay ở nước ta.

Vì như vậy có thể làm cho vụ án bị giải quyết thiếu khách quan, làm lợi cho đương sự này nhưng lại xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của đương sự khác. Thứ hai: Trong điều kiện hiện nay, khả năng tự bảo vệ của các đương sự trong VADS còn rất yếu, sự hiểu biết pháp luật của họ còn hạn chế. Nhất là đương sự ở những vùng nông thôn và miền núi, họ không có điều kiện mời luật sư để bảo vệ quyền lợi cho mình. Do đó, khi có tranh chấp dân sự xảy ra, họ không biết phải có các chứng cứ, tài liệu gì để bảo vệ quyền lợi của mình, tìm kiếm các chứng cứ đó ở đâu, để cung cấp cho Tòa án.

Trong khi đó, chúng ta chưa đủ điều kiện quy định việc tham gia tố tụng của luật sư là bắt buộc, nên nếu quy định nghĩa vụ chứng minh hoàn toàn thuộc về đương sự có thể dẫn đến tình trạng đương sự không có khả năng chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chính vì vậy, quy định Nhà nước (Tòa án) phải hỗ trợ đương sự trong việc TTCC là hợp lý. Thứ ba: Ở nước ta, do nhiều nguyên nhân khác nhau, việc phổ cập các tài liệu, giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, nhà ở còn hạn chế; các 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chứng cứ hiện đang do một số cơ quan Nhà nước có trách nhiệm bảo quản, quản lý. Nhiều tài liệu, giấy tờ, văn bản chưa có điều kiện để công khai cho công dân.

Thêm nữa, việc quản lý hành chính còn cồng kềnh, quan liêu; máy móc, trang thiết bị chưa cho phép phổ cập tất cả mọi thông tin này đến với mọi người dân. Nhiều trường hợp, việc TTCC đang do cơ quan, tổ chức lưu giữ, quản lý là rất khó khăn. Trong rất nhiều vụ án, mặc dù đương sự đã mất nhiều công sức, thời gian đi lại yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp các chứng cứ liên quan đến việc giải quyết VADS để họ giao nộp cho Tòa án, nhưng đều bị từ chối với đủ mọi lý do; hoặc các cơ quan, tổ chức cung cấp không đầy đủ, không chính xác, không đúng thời hạn. Điều này đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước, cụ thể là Tòa án, với tính chất là cơ quan có chức năng giải quyết tranh chấp, hỗ trợ đương sự TTCC đang lưu giữ tại các cơ quan, tổ chức mà đương sự không thể thu thập được.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ