Chương 1: Lý luận chung về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự. Chương 2: Quy định của pháp luật về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự. Chương 3: Thực tiễn áp dụng và giải pháp nâng cao vai trò của Thẩm phán trong hoạt động thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ vụ án dân sự. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁM TRONG THU THẬP CHỨNG CỨ, XÂY DỰNG HỒ SƠ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 1.
Khái niệm vai trò của Thẩm phán. Khái niệm Thẩm phán TAND có vị trí trung tâm trong các cơ quan tư pháp thực hiện chức năng xét xử. Trong TAND, Thẩm phán là người có vị trí và vai trò then chốt để thực thi chức năng của Tòa án. Xét về lịch sử ra đời thì khái niệm Thẩm phán ra đời khá muộn mặc dù nhiệm vụ xét xử đã có từ rất lâu và không thể thiếu trong bộ máy nhà nước.
Dưới thời kỳ chiếm hữu nô lệ và phong kiến hình thức Nhà nước chủ yếu là quân chủ lập hiến, hoạt động xét xử cũng như hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp đều tập trung vào giai cấp chủ nô và phong kiến mà đại diện là nhà vua. Nhà vua là người nắm toàn bộ quyền hành, đứng đầu Nhà nước ban hành các đạo luật, quy định tổ chức thực hiện và là người có quyền lực cao nhất. Đến thế kỷ XVII, XVIII giai cấp tư sản phát triển mạnh mẽ đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến đã hạn chế dần quyền lực của nhà vua, tiến tới xoá bỏ Nhà nước phong kiến. Trong thời gian này, các học giả tư sản mà tiêu biểu nhất là Montesquieu trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” đã đưa ra luận điểm: Phải tách các hoạt động ban hành pháp luật, hoạt động thực hiện pháp luật và hoạt động xét xử, chia quyền lực nhà nước thành ba loại quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau tạo cơ chế kiềm chế đối trọng lẫn nhau, chống lại tư tưởng độc quyền của một người, hay của một cơ quan nào đó, nắm toàn bộ quyền lực Nhà nước.
Có thể nói sự tách bạch và độc lập giữa Toà án ra khỏi hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp đã hình thành nên một đội ngũ cán bộ mới trong bộ máy nhà nước làm nhiệm vụ xét xử từ xưa đến nay chưa từng có đó là Thẩm phán. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo khái niệm Thẩm phán trong từ điển Tiếng Việt thì: Thẩm phán là người chuyên làm công tác xét xử các loại vụ án. Tại Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm TAND năm 2002 đã định nghĩa: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án”. Từ định nghĩa về Thẩm phán cho thấy Thẩm phán là một chức danh tư pháp được bổ nhiệm theo trình tự thủ tục và tiêu chuẩn do pháp luật quy định chặt chẽ để làm nhiệm vụ xét xử của Tòa án hay chính là thực hiện chức năng của Tòa án (chức năng xét xử nhân danh Nhà nước) thực hiện quyền tư pháp.
Theo quan điểm của TS. Nguyễn Quang Hiền: “Tòa án là một thiết chế không thể tự thực hiện được quyền tư pháp (xét xử) mà phải thông qua con người cụ thể để thay mặt Tòa án thực hiện quyền tư pháp, đó chính là Thẩm phán”[17]. - Thẩm phán TAND ở nước ta gồm có: Thẩm phán TANDTC. Thẩm phán cao cấp.
Thẩm phán trung cấp. Thẩm phán sơ cấp. - Thẩm quyền bổ nhiệm thẩm phán đều do Chủ tịch nước bổ nhiệm. - Về nhiệm kỳ của Thẩm phán: “Nhiệm kỳ đầu của các Thẩm phán là 05 năm; trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc được bổ nhiệm vào ngạch Thẩm phán khác thì nhiệm kỳ tiếp theo là 10 năm.
Ngoài ra, qua định nghĩa về Thẩm phán, ta thấy Thẩm phán cũng được coi là công chức nhà nước. Thẩm phán là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan Nhà nước ở đây là TAND, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Theo pháp luật về cán bộ, công chức hiện hành, Thẩm phán được xếp vào ngạch công chức nhà nước được hưởng mọi quyền lợi, nghĩa vụ và chế độ của công chức nói chung. Theo quan 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điểm của tác giả Nguyễn Minh Sử thì cần phải coi “Thẩm phán là một dạng công chức đặc biệt” [65].
Từ các lý do trên tác giả đưa ra khái niệm về Thẩm phán: “Thẩm phán là công chức danh tư pháp đặc biệt được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng xét xử của Tòa án, nhân danh Nhà nước có vai trò bảo vệ công lý, công bằng và bình ổn các mối quan hệ xã hội”. Với quy định trên thì không có một công chức nào có thể thay thế hoặc thực hiện thay nhiệm vụ của Thẩm phán được. Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động TTCC, xây dựng hồ sơ giải quyết VADS. TTCC là việc phát hiện, lựa chọn và tập hợp chứng cứ đưa vào hồ sơ vụ án để Tòa án nghiên cứu, đánh giá, sử dụng phục vụ cho việc giải quyết VADS một cách đúng đắn.
Đây là công việc rất quan trọng, tạo cơ sở cho quá trình chứng minh, có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết VADS. Trong TTDS Việt Nam hiện hành, hoạt động TTCC có thể được tiến hành bởi nhiều loại chủ thể tùy thuộc vào vị trí, vai trò, chức năng của từng chủ thể và từng giai đoạn tố tụng khác nhau. Tác giả đề cập đến vai trò TTCC của Thẩm phán khi tiến hành GQVA ở giai đoạn sơ thẩm. Đồng thời với việc quy định nghĩa vụ CCCC của đương sự, BLTTDS năm 2004, đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2011 quy định trách nhiệm TTCC của Tòa án và chỉ được tiến hành trong những trường hợp do Bộ luật này quy định (Điều 6, Khoản 2 Điều 85BLTTDS).
Quy định về trách nhiệm TTCC của Tòa án (Thẩm phán) hay sự cần thiết của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ là xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của Việt Nam; do vậy tác giả đồng ý với quan điểm của Ths. Nguyễn Văn Lin và Ths. Nguyễn Thị Hạnh, xuất phát từ các điều kiện sau đây [22]: Thứ nhất: Hệ thống tư pháp Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo truyền thống pháp luật lục địa. Trong đó, TTDS thể hiện tính chất pha trộn giữa tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi nhưng yếu tố xét hỏi nổi trội hơn.
Thẩm phán được 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phân công GQVA là người trực tiếp xây dựng hồ sơ vụ án và trên cơ sở hồ sơ này để GQVA. Quá trình xác minh, TTCC cũng chính là quá trình xây dựng hồ sơ VADS. Chính vì vậy, hồ sơ VADS là yếu tố có ý nghĩa hết sức quan trọng trong GQVA. Ngoài việc phải đảm bảo việc giải quyết VADS khách quan, công bằng, đúng pháp luật, Thẩm phán còn có trách nhiệm GQVA đúng thời hạn.
Mặt khác, lý luận về chứng cứ cũng cho thấy, Tòa án là cơ quan có nhiệm vụ đánh giá toàn bộ chứng cứ để giải quyết đúng đắn vụ án. Việc đánh giá chứng cứ có đúng đắn, khách quan và toàn diện hay không phụ thuộc vào việc cung cấp, TTCC có đầy đủ, chính xác và đúng pháp luật hay không. Và ở đây, trách nhiệm của Thẩm phán là phải đảm bảo trong hồ sơ vụ án có đầy đủ chứng cứ làm căn cứ cho việc GQVA. Do đó, mặc dù BLTTDS quy định các đương sự có nghĩa vụ CCCC để Tòa án xem xét GQVA, nhưng nếu “phó thác” toàn bộ nghĩa vụ chứng minh cho các đương sự để giải phóng hoàn toàn nghĩa vụ chứng minh của Tòa án, thì sẽ không thực tế trong điều kiện hiện nay ở nước ta.
Vì như vậy có thể làm cho vụ án bị giải quyết thiếu khách quan, làm lợi cho đương sự này nhưng lại xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của đương sự khác. Thứ hai: Trong điều kiện hiện nay, khả năng tự bảo vệ của các đương sự trong VADS còn rất yếu, sự hiểu biết pháp luật của họ còn hạn chế. Nhất là đương sự ở những vùng nông thôn và miền núi, họ không có điều kiện mời luật sư để bảo vệ quyền lợi cho mình. Do đó, khi có tranh chấp dân sự xảy ra, họ không biết phải có các chứng cứ, tài liệu gì để bảo vệ quyền lợi của mình, tìm kiếm các chứng cứ đó ở đâu, để cung cấp cho Tòa án.
Trong khi đó, chúng ta chưa đủ điều kiện quy định việc tham gia tố tụng của luật sư là bắt buộc, nên nếu quy định nghĩa vụ chứng minh hoàn toàn thuộc về đương sự có thể dẫn đến tình trạng đương sự không có khả năng chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chính vì vậy, quy định Nhà nước (Tòa án) phải hỗ trợ đương sự trong việc TTCC là hợp lý. Thứ ba: Ở nước ta, do nhiều nguyên nhân khác nhau, việc phổ cập các tài liệu, giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, nhà ở còn hạn chế; các 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chứng cứ hiện đang do một số cơ quan Nhà nước có trách nhiệm bảo quản, quản lý. Nhiều tài liệu, giấy tờ, văn bản chưa có điều kiện để công khai cho công dân.
Thêm nữa, việc quản lý hành chính còn cồng kềnh, quan liêu; máy móc, trang thiết bị chưa cho phép phổ cập tất cả mọi thông tin này đến với mọi người dân. Nhiều trường hợp, việc TTCC đang do cơ quan, tổ chức lưu giữ, quản lý là rất khó khăn. Trong rất nhiều vụ án, mặc dù đương sự đã mất nhiều công sức, thời gian đi lại yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp các chứng cứ liên quan đến việc giải quyết VADS để họ giao nộp cho Tòa án, nhưng đều bị từ chối với đủ mọi lý do; hoặc các cơ quan, tổ chức cung cấp không đầy đủ, không chính xác, không đúng thời hạn. Điều này đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước, cụ thể là Tòa án, với tính chất là cơ quan có chức năng giải quyết tranh chấp, hỗ trợ đương sự TTCC đang lưu giữ tại các cơ quan, tổ chức mà đương sự không thể thu thập được.