Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của Quốc hội trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế. Chương 2: Thực trạng hoạt động lập pháp của Quốc hội trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế. Chương 3: Phương hướng, giải pháp tăng cường vai trò của Quốc hội trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế ở Việt Nam hiện nay. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI TRONG VIỆC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ KINH TẾ 1.
Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của Quốc hội trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế 1. Khái niệm hệ thống pháp luật về kinh tế Theo cách hiểu chung nhất “hệ thống” là một tập hợp các yếu tố vật chất hay phi vật chất, được tổ chức và sắp xếp theo một trật tự logic nhất định để vận hành đồng bộ với mục tiêu đặt ra. Để tiến hành tổ chức và quản lý nền kinh tế quốc dân, nhà nước phải ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ kinh tế. Pháp luật kinh tế thực chất là các chế độ chính sách kinh tế do nhà nước quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật; các chế độ chính sách này cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế trong từng thời kỳ.
Có thể nhận thấy, với tư cách là công cụ quản lý kinh tế quan trọng của nhà nước, pháp luật có vai trò khác nhau trong quản lý kinh tế của nhà nước trong từng thời kỳ phát triển của đất nước. Trong nền kinh tế khép kín trước đây, nhà nước chỉ thừa nhận và cho tồn tại hai thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ yếu, nhà nước thực hiện việc tác động đến nền kinh tế thông qua các chỉ tiêu pháp lệnh, mang nặng tính bao cấp của nhà nước; ở đó nhà nước can thiệp trực tiếp vào các quan hệ kinh tế; do vậy, pháp luật trở thành công cụ quản lý trực tiếp của nền kinh tế. Bước sang thời kỳ đổi mới đất nước (được bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986), nhà nước chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường, có sự quản lý của nhà nước với sự tồn tại và phát triển đa dạng các quan hệ kinh tế dựa trên sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân; nhà nước không can thiệp trực tiếp vào các quan hệ kinh tế mà chủ yếu đề ra các chính sách, tạo đòn bẩy cho sự phát triển của kinh tế. Ở đó, pháp luật trở thành công cụ gián tiếp, nhưng không thể thiếu 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong quản lý nền kinh tế của nhà nước.
Thông qua pháp luật, nhà nước bảo hộ sự hình thành, phát triển các quan hệ kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thông qua việc ban hành chính sách pháp luật, nhà nước tạo hành lang pháp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Bằng chính các quy định của pháp luật, nhà nước thừa nhận và bảo hộ quyền, nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh, giảm bớt gánh nặng ngân sách nhà nước trong đầu tư và tài trợ chính cho nền kinh tế. Đồng thời, với tư cách là chủ thể quản lý, nhà nước thông qua pháp luật – nơi thể hiện ý chí của nhà nước, sẽ định hướng cho sự vận động và phát triển của nền kinh tế vào quỹ đạo xây dựng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo sự ổn định chính trị, phát triển văn hóa, giáo dục và thực hiện định hướng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Mặt khác, thông qua pháp luật, nhà nước điều chỉnh các quan hệ kinh tế và hạn chế, khắc phục được những nhược điểm của kinh tế thị trường tác động đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Có thể nói, pháp luật là yếu tố điều chỉnh không thể thiếu trong bất kỳ một xã hội có phân chia giai cấp, nhưng pháp luật không phải là công cụ duy nhất để nhà nước thực hiện chức năng quản lý xã hội nói chung và quản lý nền kinh tế nói riêng. Vì vậy, không nên tuyệt đối hóa vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Vấn đề là ở chỗ phải đánh giá đúng vai trò của nó và biết kết hợp, sử dụng nó với các công cụ quản lý khác.
Nhà nước sử dụng pháp luật trong việc quản lý nền kinh tế được thực hiện thông qua hệ thống pháp luật về kinh tế. Theo đó, hệ thống pháp luật về kinh tế là tổng thể các văn bản pháp luật có tính quy phạm điều chỉnh các quan hệ kinh tế. Xét về thứ bậc, trật tự, hệ thống pháp luật về kinh tế bao gồm các loại văn bản quy phạm pháp luật với những tên gọi sau đây: - Hiến pháp, Luật, Nghị quyết do Quốc hội ban hành; - Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban ban thường vụ Quốc hội.; - Các văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ và các cơ quan nhà nước khác ban hành nhằm hướng dẫn, cụ thể những quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xét về tính chất, phạm vi điều chỉnh hệ thống pháp luật về kinh tế bao gồm các nhóm sau đây: - Nhóm các văn bản quy định về quản lý, tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp; - Nhóm các văn bản quy định về đầu tư; - Nhóm các văn bản quy định về giao dịch dân sự, kinh tế thương mại, cạnh tranh chống độc quyền, giải quyết tranh chấp về kinh tế; - Nhóm các văn bản quy định về quản lý, sử dụng đất đai; - Nhóm các văn bản quy định về tài chính, tiền tệ; Tuy nhiên, hiện nay về mặt lý luận cũng như thực tế, vẫn thừa nhận hình thức lập quy của Chính phủ.
Đó là hình thức văn bản quy phạm pháp luật nhưng lại điều chỉnh những vấn đề chưa được điều chỉnh bằng luật của Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Những vấn đề cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Việc ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội” [48, khoản 4, Điều 14]. Về nguyên tắc hình thức văn bản này chỉ được áp dụng trong trường hợp, do yêu cầu bức xúc của quan hệ xã hội đòi hỏi phải được điều chỉnh bằng pháp luật, nhưng Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội chưa có đủ điều kiện ban hành luật, pháp lệnh.
Tuy nhiên, luật cũng quy định Chính phủ phải báo cáo và xin ý kiến Ủy ban thường vụ Quốc hội và sau một thời gian sẽ trình Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội nâng lên thành luật hay pháp lệnh. Trong hệ thống pháp luật về kinh tế, ngoài hiến pháp và các văn bản luật, pháp lệnh do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành, các nghị quyết về kinh tế - xã hội cũng được coi là một đạo luật, vì các nghị quyết về kinh tế - xã hội do Quốc hội ban hành được thực hiện theo một quy trình, thủ tục như một đạo luật và chiếm vị trí quan trọng, không thể thiếu trong quản lý kinh tế của nhà nước, buộc mọi cơ quan, tổ chức, công dân phải thi hành. Vị trí của các văn bản luật, nghị quyết và pháp lệnh có được quy định bởi chính cơ quan ban hành, bởi tính quy phạm và tính hiệu lực của văn bản luật. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xét về cơ quan ban hành, luật do Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nhân dân, cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp, do vậy, văn bản luật bao giờ cũng phải thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng.
Các văn bản dưới luật được xây dựng phải dựa trên các quy định của luật, không được trái với các quy định đó. Như vậy có thể nói, trong lĩnh vực kinh tế, luật là cơ sở cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện quản lý kinh tế. Xét về tính quy phạm và hiệu lực của văn bản luật: xuất phát từ vị trí của luật trong hệ thống pháp luật, các văn bản luật được Quốc hội ban hành nhằm cụ thể hóa Hiến pháp, điều chỉnh các quan hệ xã hội, làm căn cứ để ban hành các văn bản pháp quy; do vậy, văn bản luật có phạm vi điều chỉnh rộng lớn, có hiệu lực thi hành đối với mọi cơ quan, tổ chức và công dân, các văn bản pháp quy không được trái với quy định của luật. Việc khẳng định vị trí của các đạo luật, chính là yêu cầu chung của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Cơ sở thực tiễn của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế Trên bình diện triết học, pháp luật là một hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng tầng, sự thay đổi các quan hệ kinh tế thuộc cơ sở hạ tầng sẽ tất yếu dẫn đến sự thay đổi về nội dung và phương pháp điều chỉnh của pháp luật về kinh tế - thuộc kiến trúc thượng tầng. Bởi vậy, như Mác đã viết:“Trong thời đại nào cũng thế, chính vua chúa phải phục tùng những điều kiện kinh tế, chứ không bao giờ vua chúa lại ra lệnh cho những điều kiện kinh tế được. Chẳng qua, chế độ pháp luật về chính trị, cũng như về dân sự chỉ là cái việc nói lên sự ghi chép lại quyền lực của những quan hệ kinh tế” [6, tr. Tuy nhiên, pháp luật kinh tế không những được xây dựng với mục đích điều chỉnh các quan hệ kinh tế mà còn có chức năng đón hướng trước sự vận động của các quan hệ kinh tế cần điều chỉnh, nhưng đến một giai đoạn nhất định nào đó, khi các quan hệ kinh tế vận động không còn phù hợp với sự điều chỉnh của pháp luật, thì pháp luật cũng phải được thay đổi cho phù hợp với các quan hệ kinh tế.