Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI TRONG VIỆC BẢO VỆ VÀ THÚC ĐẨY QUYỀN CON NGƢỜI Ở VIỆT NAM 1. Khái quát về quyền con ngƣời 1. Khái niệm và đặc điểm của quyền con người Những ý tưởng về quyền con người đã ra đời từ rất sớm cùng với sự phân chia giai cấp trong xã hội và hình thành Nhà nước. Ở Nhà nước chiếm hữu nô lệ, tư tưởng về bình đẳng, dân chủ, pháp luật hoá tư tưởng về quyền con người đã được thể hiện dù còn hạn chế, điển hình là trong Bộ luật Hamurabi.
Hay như ở xã hội phong kiến Việt Nam, tính dân tộc, nhân đạo, tiến bộ cũng được thể hiện rõ nét và xuyên suốt qua nhiều triều đại, nổi bật là Quốc triều Hình Luật của nhà Lê được ban hành dưới triều vua Lê Thánh Tông vào thế kỷ XV. Thế kỷ XVII - XVIII ở châu Âu, trường phái pháp luật tự nhiên với các đại diện như: Spinoda, Hobbes, Kant. đã mở ra một trang mới cho sự phát triển tư tưởng bảo vệ quyền cá nhân chống lại sự vi phạm từ phía quyền lực. Tư tưởng này góp phần vào thắng lợi của cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến tàn bạo, thiết lập nhà nước mà ở đó phẩm giá con người được nâng lên thành công dân của xã hội chứ không phải thần dân của vua.
Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ năm 1776 khẳng định: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền được sống, quyền tự do và quyền được mưu cầu hạnh phúc" [2,tr. Những tuyên bố này đã được tái khẳng định trong Bản Tuyên ngôn Quyền công dân và Quyền con người 1789 của nước Pháp và Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng về quyền con người thực sự trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu và dần được thể chế hóa toàn diện, có tính hệ thống vào pháp luật và đời sống chính trị quốc tế bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi các tổ chức quốc tế lớn ra đời như: Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế (năm 1863), Hội Quốc Liên (1919), Tổ chức lao động Quốc tế (1919).
Đặc biệt, sau khi Liên Hợp Quốc ra đời năm 1945 và ban hành Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm1948 thì vấn đề quyền con người đã trở thành mục tiêu chung và căn bản của 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com toàn nhân loại, là động lực đấu tranh của tất cả nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Lời nói đầu của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 có nhấn mạnh: "Việc thừa nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới” [3]. Đưa ra khái niệm về quyền con người, Văn phòng Cao ủy Liên hiệp Quốc về quyền con người đã định nghĩa như sau: Những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người" [2,tr. Cách hiểu về quyền con người của các chuyên gia, cơ quan nghiên cứu ở Việt Nam cũng không hoàn toàn đồng nhất, nhưng nhìn chung, đa số đều hiểu rằng quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
Quyền con người được tiếp cận dưới góc độ là những quyền tự nhiên, vốn có nhưng phải được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quyền con người được coi là những chuẩn mực được cộng đồng Quốc tế thừa nhận và tuân thủ và được áp dụng cho tất cả mọi người trên thế giới. Quyền con người có những đặc điểm nổi bật sau: - Quyền con người có tính tự nhiên: Đó là những đặc quyền mà con người sinh ra là tự nhiên có, mang tính tự nhiên mà nổi bật là quyền được sống, được bảo vệ, được tự do phát triển. Mặc dù, những đặc quyền đó có trước, song chừng nào chưa được pháp luật công nhận thì chúng không thể được đưa ra áp dụng.
- Quyền con người có tính phổ quát: Quyền con người được hầu hết các Quốc gia trên thế giới công nhận và tuân thủ, được áp dụng bình đẳng cho mọi người, không có sự phân biệt đối xử bởi bất kỳ lý do nào về chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, thành phần xuất thân.Như vậy, quyền con người là một giá trị chung của nhân loại, là mục đích vươn tới của nhân loại. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Quyền con người có tính bất khả xâm phạm: Quyền con người là bất khả xâm phạm, không bị tước đoạt, ngoại trừ trong các tình huống cụ thể và theo đúng quy định của pháp luật quốc gia, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Ví dụ, quyền tự do có thể được hạn chế nếu một người bị kết án là phạm một tội theo quy định của pháp luật bởi một bản án có hiệu lực của tòa án có thẩm quyền. - Quyền con người không thể phân chia, tách rời: Đó là các quyền dân sự và chính trị như quyền sống, bình đẳng trước pháp luật và tự do ngôn luận; các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, như các quyền được làm việc, an sinh xã hội và giáo dục; hoặc quyền của nhóm như quyền phát triển và tự quyết định.
Các quyền này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, việc cải thiện một trong những quyền có thể tạo điều kiện đảm bảo tốt các quyền khác. Trái lại, việc một quyền bị xâm phạm hay tước đoạt cũng có thể ảnh hưởng xấu đến những quyền khác. Các quyền của con người thường được thể hiện và đảm bảo theo quy định của pháp luật quốc gia, các điều ước, cam kết, thỏa thuận hoặc tập quán quốc tế. Luật pháp quốc tế về quyền con người đặt ra nghĩa vụ đối với mỗi quốc gia thành viên nhằm buộc các quốc gia phải hành động theo những cách nhất định hoặc tránh một số hành vi nhất định để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người.
- Quyền con người có tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau: Quyền con người mang tính toàn diện, chúng không tồn tại một cách độc lập, tách rời với nhau mà tồn tại trong một tổng thể có mối liên hệ mật thiết, chúng phụ thuộc, ràng buộc lẫn nhau, trong đó, việc đảm bảo toàn bộ hoặc một phần các quyền này là điều kiện để đảm bảo toàn bộ hoặc một phần các quyền khác và ngược lại. Một xã hội phát triển, đảm bảo tốt các quyền và tự do chính trị, dân sự sẽ có những tác động tích cực trực tiếp và gián tiếp đảm bảo các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội. Và ngược lại, các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội được đảm bảo thì các quyền chính trị, dân sự sẽ được thực thi tốt. Yêu cầu bảo vệ quyền con người ở Việt Nam trong tình hình mới Với đường lối đổi mới, tập trung xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, đất nước ta đang từng bước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, giành được những thành tựu đáng ghi nhận, trước sự tác động phức tạp của tình hình thế giới, khu vực.
Lĩnh vực 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kinh tế - xã hội ngày một phát triển, chính trị ổn định, quốc phòng - an ninh được củng cố và tăng cường; đời sống của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ không ngừng được cải thiện; uy tín, vị thế của nước ta không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế. Ngày 12/11/2013, với tỷ lệ phiếu thuận 184/192, Việt Nam đã lần đầu tiên trở thành thành viên Hội đồng Quyền con người Liên Hợp Quốc. Ngày 28/11/2013, Hiến pháp mới đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua, thay thế cho Hiến pháp năm 1992. Đặt những quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân tại Chương II, Hiến pháp đã khẳng định tầm quan trọng của quyền con người, quyền công dân, thể hiện sự nhất quán đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong việc công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên quy định quyền sống; quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa, nghiên cứu và thụ hưởng các kết quả khoa học; quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp; quyền được sống trong môi trường trong lành…Đáng chú ý trong Hiến pháp 2013 cũng đã có sự thể hiện rõ sự thống nhất giữa quyền con người và quyền công dân, quyền nào là nhóm quyền được áp dụng đối với mọi cá nhân với tư cách là quyền con người, quyền nào là nhóm quyền chỉ áp dụng đối với công dân Việt Nam với tư cách là các quyền công dân. Quyền con người cũng là quyền công dân, nhưng phải có một sự phân định rạch ròi, những thứ mà mọi người được hưởng thì đó là quyền con người; những gì công dân được hưởng thì đó là quyền công dân. Những thay đổi trên khiến cho chế định này của Hiến pháp phù hợp hơn với nội dung của các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, cũng như với chế định về quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp các nước dân chủ. Phần lớn những thay đổi trên nhằm khắc phục những hạn chế của các Hiến pháp trước đây về quyền con người, quyền công dân.
Hiến pháp năm 2013 về cơ bản đã tiếp thu quy định của Công ước quốc tế về quyền chính trị, dân sự; quyền kinh tế, văn hóa và Tuyên ngôn quyền con người năm 1948. Sự tiếp thu này là phù hợp với thời kỳ toàn cầu hóa, và để những quy định về quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp được đầy đủ hơn. Đây 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cũng là điều kiện để Việt Nam thực hiện tốt các nghĩ vụ và cam kết của một Quốc gia thành viên Hội đồng Quyền con người và thành viên Liên Hợp Quốc trong nhiệm kỳ 2014 – 2016.