Chương 1 NHẬT BẢN SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI (1945 - 1965) VÀ NHỮNG CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN PHỤ NỮ 1. Bối cảnh Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai Sau khi nhục nhã tiếp nhận Tuyên bố Postdam và đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện, Nhật Bản bị quân Đồng minh, trên thực tế là quân đội Mỹ, chiếm đóng. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản bị nước ngoài chiếm đóng. Nước Nhật mất hết thuộc địa (diện tích tương đương 44% toàn bộ lãnh thổ Nhật Bản) [1; tr.18] và phải đối mặt với tình trạng bị bao vây, cấm vận, kinh tế bị phá huỷ hoàn toàn.
Ngoài hai thành phố là Hiroshima và Nagasaki bị san phẳng vì bom nguyên tử cùng hàng triệu người chết và bị thương, hầu hết tất cả các thành phố lớn, các ngành công nghiệp cùng mạng lưới giao thông của Nhật Bản bị hư hại nghiêm trọng vì phi cơ Mỹ ném bom vào các khu trung tâm công nghiệp để triệt hạ sức sản xuất chiến tranh của nước Nhật. 34% máy móc, 25% công trình xây dựng, 81% tàu biển bị phá huỷ. Tại nhiều nơi của Nhật Bản chỉ còn lại đống đổ nát hoang phế. Tổng số người chết, bị thương và mất tích lên đến 3 triệu người.
Tổng giá trị thiệt hại trong chiến tranh lên đến 64,3 tỷ yên, xấp xỉ ngang tổng giá trị tài sản quốc gia năm 1935 [8, tr. Cùng với đó, việc cấm vận và bao vây từ bên ngoài cũng khiến cho Nhật Bản bị gián đoạn về việc nhập khẩu nguyên liệu cho công nghiệp. Nhiều nhà phân tích cho rằng, đối với một đất nước có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nhập khẩu như Nhật Bản, thì điều này gây ra nhiều thiệt hại hơn là bị phá huỷ cơ sở vật chất cố định trong chiến tranh. Các mỏ than và thuỷ điện được xem như là nguồn năng lượng chủ yếu của Nhật Bản thời kỳ này cũng gần như bị tê liệt, khiến cho các ngành công nghiệp liên quan cũng bị ảnh hưởng trầm trọng.
Sản lượng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công nghiệp năm 1946 chỉ còn chưa đến 1/3 tổng sản lượng công nghiệp năm 1930 và 1/7 tổng sản lượng năm 1941 [1; tr. Mặt khác, Nhật Bản phải đối mặt với tình trạng rối loạn xã hội trầm trọng sau chiến tranh. Một số lượng lớn lính giải ngũ cùng một lúc khiến cho xã hội bị đè nặng về vấn đề giải quyết thất nghiệp. Hàng triệu người không có công ăn việc làm, nhiều người dân thất nghiệp vì các nhà máy bị tàn phá, ngoài đường phố nhiều cựu chiến binh và thương binh phải đi xin ăn, thậm chí bán cả con cái để có cái ăn.
Cụ thể, sau chiến tranh có 7,61 triệu binh sĩ của các lực lượng bị giải thể, 4 triệu người phục vụ cho các cơ quan, các nhà máy quân sự hoặc các hoạt động quân sự bị thất nghiệp cho bị đình chỉ sản xuất. Số người thất nghiệp thời kỳ này lên đến 13,1 triệu người [1, tr. Vụ mùa năm 1945 cũng thất bát nặng nề, nạn thiếu thực phẩm đã xảy ra. Tại vùng quê có người còn nhảy lên tàu hỏa đi thành phố để tìm thức ăn.
Nhiều người phải tìm rau dại, đào củ ăn thay cơm. Dù người ăn mày lúc này rất ít và nạn cướp bóc cũng rất hiếm khi xảy ra, nhưng số lượng chợ đen thì tăng rất nhanh. Trước tình hình đó, Mỹ đã phải cấp tốc chở gạo cứu đói cho Nhật. Nạn thất nghiệp, vô gia cư và chợ đen xuất hiện khiến cho xã hội nảy sinh nhiều vấn đề khác như bệnh tật, mại dâm.
Nhận xét về tình hình Nhật Bản lúc bấy giờ, Giám đốc Viện nghiên cứu Đông Á tại đại học Harvard, Edwin Reischauer cho rằng: ―.Với sự tàn phá hầu hết các đô thị và sự huỷ diệt hầu như hoàn toàn lực lượng tàu buôn vốn từ trước đến nay làm thành mạch máu kinh tế duy trì sự sống của nước Nhật, sản xuất công nghiệp của Nhật tụt xuống mức thấp nhất: vào năm 1946 chỉ còn 1/7 mức sản xuất của năm 1941. Dân chúng ăn mặc rách rưới, ăn uống thiếu thốn, và bị kiệt quệ cả về thể xác lẫn tinh thần [7, tr. Bên cạnh đó, tình trạng lạm phát nghiêm trọng cũng đồng thời xảy ra khiến cho giá cả tăng vọt. Trong chiến tranh, thâm hụt ngân sách do tiền mặt 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đổ hết vào chiến tranh khiến cho trái phiếu của chính phủ và các món nợ của trung ương đã lên đến 200%.
So với năm 1945, chỉ số giá tiêu dùng tăng gấp 7. Sản xuất công nghiệp năm 1946 chỉ bằng 1/4 so với trước chiến tranh. Chính phủ Nhật đã có các biện pháp như phát hành tiền mới, gửi tiền tiết kiệm, thu thuế tài sản. để chống lạm phát, nhưng kết quả vẫn không ngăn được lạm phát, gây mất lòng tin trong dân chúng vào chính phủ, dẫn đến tình trạng gần như vô chính phủ.
Ngoài ra, Nhật Bản còn bị quân Đồng minh đòi bồi thường về chiến tranh. Khoản bồi thường này cũng là một khó khăn không nhỏ của Nhật Bản khi đất nước đang ở trong tình trạng mất kiểm soát về mọi mặt. Cuối cùng, Nhật Bản phải dựa vào viện trợ kinh tế của Mỹ dưới hình thức vay nợ để phục hồi kinh tế. Các chính sách liên quan đến phụ nữ 1.
Hiến pháp năm 1946 Nhằm sớm đưa Nhật Bản ra khỏi chủ nghĩa quân phiệt và để kiến tạo một nước Nhật mới, ngày 3/11/1946, Hiến pháp mới được công bố thay thế cho Hiến pháp Minh Trị, với tên gọi là Hiến pháp Nhật Bản (日本国憲法) và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 3/5/1947. So với Hiến pháp Minh Trị, bản Hiến pháp này có rất nhiều điều khoản mới đảm bảo quyền công dân Nhật Bản trước pháp luật nói chung và bảo vệ người phụ nữ nói riêng. Tác giả luận văn đã thống kê các điều luật liên quan đến phụ nữ trong Hiến pháp mới và nhận thấy: trong tổng số 103 điều (11 chương), số điều luật liên quan đến phụ nữ là 11 điều, chiếm 11,33%. Trong đó, nội dung về bình đẳng giới chiếm 27,3% (Điều 13, Điều 14, Điều 18); hôn nhân chiếm 9,1% (Điều 24); tư hữu 9,1% (Điều 29); giáo dục chiếm 27,3% (Điều 23, Điều 25, Điều 26); lao động chiếm 9,1 % (Điều 27); bầu cử chiếm 18,2 % (Điều 15, Điều 44).
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Tỷ lệ nội dung các điều luật liên quan đến phụ nữ trong Hiến pháp Đơn vị (%) Bầu cử, 18.1 Bảng do tác giả tự lập trên cơ sở đối chiếu với Hiến pháp Nhật Bản [6] Sau đây, tác giả luận văn xin tập trung phân tích một số nội dung quan trọng, làm nền tảng cho sự thay đổi vị trí của phụ nữ ở Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Trước hết, Điều 14 Hiến pháp viết: ―Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và không có bất kỳ sự phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng, giới tính, địa vị xã hội, hay lai lịch bản thân trong tất cả các lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế‖ [6, tr. Tiếp theo, Điều 24 đã cụ thể hoá quyền bình đẳng của người phụ nữ trong hôn nhân và gia đình: ―Hôn nhân phải có sự tán thành của cả hai vợ chồng, phải tồn tại dựa trên sự hợp tác, bình đẳng về quyền lợi giữa hai người. Dựa trên tinh thần tôn trọng phẩm giá cá nhân, bình đẳng giới, pháp luật ban hành quy định về việc lựa chọn vợ chồng, quyền tư hữu, thừa kế, chọn lựa nơi ở, li dị và mọi vấn đề khác về hôn nhân, gia đình‖ [6, tr.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, theo Điều 24 của Hiến pháp mới, mối quan hệ trong gia đình lấy nam giới làm trung tâm đã chuyển thành mối quan hệ bình đẳng giữa vợ và chồng. Điều 24 nhấn mạnh sự tôn trọng các quyền cá nhân cùng sự bình đẳng cơ bản giữa nam giới và nữ giới. Một trong những điều được chú ý nữa là quan điểm dân chủ hoá giáo dục. Điều 23 Hiến pháp viết rằng:―Chính phủ đảm bảo quyền tự do học thuật của công dân‖ [6, tr.
Điều 26 ghi rõ: ―Mọi công dân đều có quyền hưởng một nền giáo dục bình đẳng, phù hợp với khả năng và theo quy định của pháp luật. Tất cả mọi người đều phải bảo đảm cho con em họ được tiếp thu giáo dục phổ thông theo quy định của luật pháp. Giáo dục bắt buộc được miễn phí‖ [6, tr. Điều 27 của Hiến pháp mới công nhận tự do việc làm của công dân: ―Mọi ngu ời đều có quyền và có nghĩa vụ làm viẹ c.
Các tiêu chuẩn về lu o ng bổng, giờ làm, thời gian nghỉ ngo i và nhiều điều kiẹ n làm viẹ c khác đều đu ợc pháp luạ t quy định‖ [6, tr. Đây là một trong những nội dung nền tảng quan trọng giúp phụ nữ Nhật Bản chủ động rời khỏi phạm vi gia đình, bước vào xã hội và tự khẳng định mình. Bên cạnh đó, Hiến pháp mới cũng công nhận quyền được tham chính của phụ nữ. Điều 44 viết: ―Điều kiẹ n bầu cử và ứng cử các thành viên m i Viẹ n đu ợc ghi trong pháp luạ t, không có sự phân biẹ t về chủng tọ c, tín ngu ỡng, giới tính, điều kiẹ n xã họ i, l lịch gia đình, học vấn, tài sản và thu nhạ p‖ [6, tr.
Như vậy, bản Hiến pháp mới với ba nguyên lý nền tảng hoà bình, dân chủ, tôn trọng nhân quyền đã là nền móng vững chắc để Nhật Bản tiến hành cải cách trên mọi phương diện, xây dựng một nước Nhật hoàn toàn mới, 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mang lại cho phụ nữ một cơ hội được đặt trên cán cân công bằng với nam giới để chứng minh khả năng của bản thân mình. Một số luật định liên quan đến phụ nữ ban hành sau Chiến tranh thế giới thứ hai Những nguyên tắc bình đẳng của Hiến pháp năm 1946 chính là nền tảng cho các văn bản quy phạm được ban hành sau đó như Luật Dân sự, Luật Cơ bản về Giáo dục, Luật Tiêu chuẩn Lao động. Phần này tập trung phân tích một số điều luật tiêu biểu tạo điều kiện để phụ nữ Nhật Bản nâng cao vai trò trong gia đình và xã hội. Luật Dân sự năm 1947 Luật Dân sự của Nhật Bản được ban hành đầu tiên dưới thời Minh Trị (明治 - 1868-1912), và được gọi là Luật Dân sự thời Minh Trị (明治民法).
Luật Dân sự thời Minh Trị đã đề cập đến các quyền công dân cơ bản nhưng vẫn tồn tại những điều khoản không bình đẳng đối với phụ nữ.