mở đầu và tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan Chương 2: Cơ sở lý luận và những kinh nghiệm quốc tế Chương 3: Vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của Thị trường chứng khoán Việt Nam Chương 4: Giải pháp và đề xuất giải quyết các hạn chế trong hoạt động của các Ngân hàng thương mại trên Thị trường chứng khoán Việt Nam 4 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 2. Khái quát chung về Ngân hàng Thương mại và Thị Trường chứng khoán 2. Thị trường chứng khoán và hoạt động của thị trường chứng khoán a. Khái niệm thị trường chứng khoán Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về thị trường chứng khoán.
Để hiểu đúng về định nghĩa thị trường chứng khoán trong sách báo Việt Nam, trước tiên chúng ta hãy xuất phát từ gốc định nghĩa thị trường chứng khoán theo Investopedia: “The stock market refers to the collection of markets and exchanges where regular activities of buying, selling and issuance of shares of publicly-held companies take place. Such financial activities are conducted through institutionalized formal exchanges or over- the-counter (OTC) marketplaces which operate under a defined set of regulations. here can be multiple stock trading venues in a country or a region which allow transactions in stocks and other forms of securities.” Theo Luật chứng khoán số 27/2013/VBHN-VPQH do Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18/12/2013 thì “TTCK là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán”. Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ dài hạn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Nhà nước để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư.
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán. Việc mua bán này trước tiên được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ người phát hành và sau đó ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. Do vậy, thị trường chứng khoán là nơi các chứng khoán được phát hành và trao đổi. 5 Hàng hóa giao dịch trên thị trường chứng khoán là cổ phiếu, trái phiếu và một số công cụ tài chính khác có thời hạn trên 1 năm.
Các trái phiếu có thời hạn dưới 1 năm là hàng hóa của thị trường tiền tệ. Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán cũng có những đặc điểm chủ yếu sau: Thị trường chứng khoán được đặc trung bởi hình thức tài chính trực tiếp, người cần vốn và người có khả năng cung ứng vốn đều trực tiếp tham gia thị trường, giữa họ không có trung gian tài chính. Thị trường chứng khoán là thị trường gắn với thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Tất cả mọi người đều được tự do tham gia vào thị trường.
Không có sự áp đặt giá cả trên thị trường chứng khoán mà giá cả ở đây được hình thành dựa trên quan hệ cung cầu của thị trường và phản ánh các thông tin có liên quan đến chứng khoán. Thị trường chứng khoán về cơ bản là một thị trường liên tục, sau khi các chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp nó có thể được mua bán nhiều lần trên thị trường thứ cấp. Thị trường chứng khoán đảm bảo cho nhà đầu tư có thể chuyển chứng khoán họ đang giữ thành tiền mặt bất cứ lúc nào họ muốn. Vai trò của thị trường chứng khoán Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội.
Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư của công ty, thị trường chứng khoán đã có những tác động quan trọng đối với sự phát triển của nền 16 kinh tế quốc dân. Thông qua thị trường chứng khoán, chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội. Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng 6 Thị trường chứng khoán cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn cho loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.
Chính vì vậy, thị trường chứng khoán góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia. c Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán Nhờ có thị trường chứng khoán các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản (khả năng chuyển đổi thành tiền mặt) là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán dối với người đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư.
Thị trường chứng khoán hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì càng có khả năng nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường. Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ảnh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm. Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tê vĩ mô Các chỉ báo của thị trường chứng khoán phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; và ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế.
Vì thế, thị trường chứng khoán được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua thị trường chứng khoán, chính phủ có thể mua và bán trái phiếu chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, chính phủ cũng có thể sử đụng một số chính sách, biện pháp tác động vào thị trường chứng khoán nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế. Ngân hàng thương mại và hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán a.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán Theo luật các tổ chức tín dụng: “Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật.” (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM) Hoạt động của các ngân hàng thương mại trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán là tùy theo điều kiện và luật pháp của mỗi nước quy định. Trên thế giới có hai kiểu mẫu về vấn đề này. Kiểu mẫu thứ nhất là “Ngân hàng đa năng” như ở Hà Lan, Đức, Thụy Sĩ. Theo kiểu mẫu này, không có sự tách biệt giữa công gnhiệp ngân hàng và công nghiệp chứng khoán.
Trong một hệ thống ngân hàng đa năng, các ngân hàng thương mại hoạt động cung cấp một loạt đầy đủ các dịch vụ ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm. Kiểu mẫu thứ hai là có sự tách biệt pháp lý giữa ngành công nghiệp ngân hàng và công nghiệp chứng khoán mà điển hình là ở Mỹ và Nhật Bản. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, xu hướng ở các nước này là nới lỏng hàng rào tách biệt bằng cách cho phép các ngân hàng thương mại được phép hoạt động kinh doanh chứng khoán thông qua việc thành lập các công ty con là công ty chứng khoán chuyên hoạt động trong lĩnh vực này với tài sản và hạch toán riêng và ngược lại các công ty chứng khoán cũng được hoạt động kinh doanh ngân hàng theo cách trên. Đây là xu hướng khá phổ biến hiện nay ở nhiều nước đang phát triển.
Ở Việt Nam, theo quy định của pháp hiện hành thì các tổ chức tín dụng, công ty bảo hiểm hoặc các công ty muốn tham gia kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ty chứng khoán độc lập. 8 NHTM đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với TTCK bởi vì NHTM tham gia trên TTCK không chỉ với tư cách là chủ thể phát hành chứng khoán mà còn có thể là nhà đầu tư và chủ thể kinh doanh trên TTCK. Các mô hình hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán Hiện nay, mô hình NHTM hoạt động trên TTCK, trên thế giới có 2 loại: Mô hình chuyên doanh (hay còn gọi là mô hình đơn năng) Theo mô hình này, các công ty chứng khoán là công ty chuyên doanh độc lập, các NHTM và các tổ chức tài chính khác không được phép tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán. Ưu điểm của mô hình này là hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng do những ảnh hưởng tiêu cực của thị trường chứng khoán, và các ngân hàng không được sử dụng vốn huy động để đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán: mặt khác, với sự chuyên môn hoá tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển.
Điển hình cho mô hình này là các công ty chứng khoán ở Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, có sự tách bạch giữa hoạt động ngân hàng và lĩnh vực chứng khoán. Ở Mỹ, đạo luật Glass- Steagall 1933 bắt buộc hai hoạt động này tách biệt nhau. Glass – Steagall chỉ cho phép các ngân hàng thương mại tiến hành chào bán các loại chứng khoán chính phủ mới phát hành lần đầu; nhưng cấm các tổ chức này bảo lãnh phát hành chứng khoán doanh nghiệp hoặc tham gia vào hoạt động môi giới chứng khoán. Tuy nhiên, hiện nay tại ở Mỹ, người ta đề nghị huỷ bỏ đạo luật Glass-Steagall, cho phép các ngân hàng được tham gia vào lĩnh vực chứng khoán.
Tháng 7 năm 1988, Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ đã cho phép thí điểm ngân hàng J.