Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÕ CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM 1. Lý luận về vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân ở Việt Nam 1. Khái niệm Hội thẩm nhân dân HTND là một vị trí có vai trò quan trọng trong hoạt động xét xử của hệ thống Tòa án của Việt Nam. Để làm rõ các vấn đề lý luận về HTND, trước tiên cần nhận diện khái niệm HTND.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Hội thẩm nhân dân” là “người do Hội đồng nhân dân bầu ra trong một thời gian nhất định cùng với Thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử các vụ án xảy ra ở địa phương” [39, tr. Khái niệm này cho thấy cơ chế pháp lý để hình thành nên HTND (thông qua hình thức bầu), thời gian thực hiện thẩm quyền của HTND (không kéo dài vĩnh viễn mà chỉ trong một thời hạn nhất định) và chức năng của HTND (cùng với Thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử). Tuy nhiên, khái niệm này vẫn chưa thực sự toàn diện, chưa bao quát tất cả các thuộc tính của HTND, cụ thể là: Về cơ chế hình thành HTND, ngoài thông qua cơ chế “bầu” thì HTND còn được xác lập thông qua cơ chế “cử”; Về chủ thể trao quyền cho HTND, không chỉ có Hội đồng nhân dân, mà còn có thể được thực hiện bởi cơ quan nhà nước khác (thông qua cơ chế cử)… Văn bản pháp luật đầu tiên quy định riêng về thẩm phán và hội thẩm TAND là Pháp lệnh số 02/2002/PL-UBTVQH ngày 04 tháng 10 năm 2002 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tiếp theo đó, ngày 19/02/2011, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 14/2011/UBNTVQH12 sửa đổi, 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thẩm phán và HTND số 02/2002/PL- UBTVQH11.
Ngày 18/12/2013, Văn phòng Quốc hội ban hành Văn bản hợp nhất 22/VBHN-VPQH hợp nhất Pháp lệnh Thẩm phán và HTND. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 1 Văn bản số 22/VBHN-VPQH ngày 18/12/2013 của Văn phòng Quốc hội thì: “Hội thẩm là người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án”. Trong thực tế, thuật ngữ “Hội thẩm” theo Văn bản số 22/VBHN-VPQH ngày 18/12/2013 của Văn phòng Quốc hội bao gồm cả “HTND” và “Hội thẩm quân nhân”, tuy nhiên trong văn bản chưa nêu được đặc điểm riêng biệt của “HTND” và “Hội thẩm quân nhân”. Luật Tổ chức TAND năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/6/2015 đã thay thế Pháp lệnh số 14/2011/UBNTVQH12 ngày 19/02/2011 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thẩm phán và HTND và cả Văn bản hợp nhất số 22/VBHN-VPQH ngày 18/12/2013 của Văn phòng Quốc hội, theo đó khái niệm HTND cũng được quy định rõ ràng hơn.
Luật Tổ chức TAND năm 2015 quy định: Chế độ bầu HTND được thực hiện đối với các TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương. Chế độ cử Hội thẩm quân nhân được thực hiện đối với các Tòa án quân sự quân khu và tương đương, các Tòa án quân sự khu vực [25, Điều 7]. HTND thuộc hệ thống TAND được hiểu là người được bầu theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của TAND. Hội thẩm quân nhân được hiểu là người được cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.
Như vậy, cùng tham gia hoạt động xét xử nhưng HTND và Hội thẩm quân nhân khác nhau về chế độ bầu và cử (HTND được bầu để 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tham gia hoạt động xét xử tại TAND, Hội thẩm quân nhân được đề cử để tham gia hoạt động xét xử tại Tòa án quân sự). Trong phạm vi luận văn của mình, tác giả chỉ nghiên cứu về vị trí, vai trò của HTND đối với hoạt động xét xử của TAND theo quy định của pháp luật hiện hành. Việc cụm từ “HTND” được quy định tại Điều 7 Luật Tổ chức TAND năm 2014 thay thế cụm từ “Hội thẩm” được quy định tại Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm và các văn bản trước đây đã thể hiện được nội hàm của khái niệm “HTND”, nhằm phân biệt HTND không phải là người thuộc biên chế Tòa án mà là người được bầu ra thông qua Hội đồng nhân dân. Từ các phân tích trên, có thể đưa ra một khái niệm khái quát đó là: HTND là chức danh được bầu theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Nguồn gốc, ý nghĩa của chế định Hội thẩm trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân ở Việt Nam HTND là một chế định có vai trò quan trọng trong hoạt động xét xử của TAND ở Việt Nam. Chế định này bắt nguồn từ và là sự thể hiện tư tưởng “lấy dân làm gốc, nhằm bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án” [3, tr. Sự hiện diện của HTND trong hoạt động xét xử của Tòa án thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân thông qua việc khẳng định rằng, Nhân dân phải có tiếng nói của mình trong hoạt động tư pháp. Khi tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án, HTND - đại diện của các giới, các ngành, các tổ chức xã hội nghề nghiệp trong nhân dân – giúp phản ánh một cách khách quan suy nghĩ, tâm tư của quần chúng nhân dân về vụ việc.
HTND khi tham gia xét xử sẽ đưa những tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân vào trong mỗi bản án để có được phán quyết vừa đúng pháp luật, vừa được xã hội đồng tình ủng hộ. Như vậy, nhìn từ góc độ bản chất Nhà nước, hoạt động xét xử không 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phải là hoạt động của một cá nhân mà là hoạt động của tập thể, không chỉ là hoạt động của cá nhân Thẩm phán mà còn có sự tham gia, giám sát của nhân dân thông qua những người đại diện cho họ, đó là HTND. Chế định HTND, vì vậy, thể hiện bản chất nhà nước là nhà nước của dân, do dân, vì dân, trong đó nhân dân làm chủ nhà nước, nắm quyền lực nhà nước, nhân dân được tham gia vào các hoạt động của nhà nước, trong đó có hoạt động xét xử. Ở khía cạnh nhân quyền và dân chủ, chế định Hội thẩm là một bảo đảm để các quyền cơ bản của công dân được tôn trọng khi đại diện của họ được tham gia vào các hoạt động của Nhà nước, trong đó có hoạt động xét xử của Tòa án, qua đó “đưa tiếng nói từ phía xã hội vào trong quá trình xét xử của Tòa án” [6].
Chế định HTND không chỉ giúp nhân dân tham gia có hiệu quả vào hoạt động xét xử mà còn giúp nhân dân kiểm tra hoạt động áp dụng pháp luật và đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống. Trong công tác xét xử, muốn việc áp dụng pháp luật được đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của quần chúng nhân dân thì các thành viên của Hội đồng xét xử không chỉ là người có trình độ cao về pháp luật mà còn phải có kiến thức và kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã hội sâu sắc. HTND đáp ứng được yêu cầu đó do họ là những người làm trong mọi ngành nghề, đại diện của các giới, các ngành, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, là những người sống và làm việc tại cơ sở, có uy tín trong xã hội, được quần chúng tín nhiệm. Không những vậy, trong nhiều trường hợp, HTND còn có kiến thức sâu về một số lĩnh vực như y học, tâm lý xã hội, quản lý kinh tế.
Với vốn hiểu biết thực tế, kinh nghiệm trong cuộc sống, với sự am hiểu về phong tục tập quán ở địa phương, Hội thẩm sẽ bổ sung các kiến thức thực tiễn cho Thẩm phán, giúp cho quá trình xét xử đúng đắn và hiệu quả. Hội thẩm có đời sống gần gũi, có mối quan hệ mật thiết với nhân dân nên có nhiều vụ án, họ hiểu rõ tình hình, hoàn cảnh cũng như nguyên nhân vụ án. HTND sẽ thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, họ sẽ đưa tiếng nói từ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phía xã hội vào quá trình xét xử, giúp cho việc xét xử chính xác, khách quan, phù hợp với quyền lợi và nguyện vọng của nhân dân. Mặt khác, xuất phát từ việc tiếp xúc và thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân, nắm bắt được dư luận xã hội, thông qua công tác tuyên truyền, hòa giải, HTND góp phần đưa pháp luật đi vào thực tiễn, có sức sống trong thực tiễn.
Thông qua việc tham gia xét xử, HTND còn góp phần tăng cường mối quan hệ giữa Tòa án với nhân dân. Tại hội nghị học tập của cán bộ ngành tư pháp năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Trong công tác xét xử phải công bằng, liêm khiết, trong sạch. Như thế cũng chưa đủ. Không chỉ giới hạn hoạt động của mình trong khung Tòa án mà phải gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân…”.
Thông qua Hội thẩm, công tác xét xử của Tòa án đến với nhân dân, vì thế nhân dân hiểu và thông cảm với công tác của Tòa án. Cũng thông qua hoạt động tham gia xét xử của HTND sẽ giúp phản ánh khách quan cách nhìn nhận về sự kiện, vụ việc từ suy nghĩ, tâm tư của quần chúng nhân dân, từ đó Tòa án có thể nắm bắt được những vướng mắc, suy nghĩ, tình cảm của quần chúng nhân dân. Một phán quyết của Tòa án có thể sẽ nhận được sự đồng tình của dư luận nhưng cũng có thể sẽ bị phản ứng, thắc mắc của dư luận. Như vậy, thông qua chế định HTND, công tác xét xử của Tòa án vừa góp phần nâng cao tinh thần tự giác, tôn trọng và bảo vệ pháp luật của nhân dân, lại vừa chịu sự giám sát của nhân dân.
Qua việc trực tiếp tham gia xét xử, HTND cũng sẽ giúp Tòa án thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong nhân dân.