Chương I: Tổng quan đề tài nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp tiếp Chương II: Tiếp cận, sử dụng và hưởng dụng đất đai ở Trịnh Tường Chương III: Trịnh Tường với lũ quét và sat lở Chương IV: Dat đai và quá trình phục hồi sau thiên tai NỘI DUNG CHUONG 1: TONG QUAN TÀI LIEU NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LY THUYET VA DIA BAN NGHIEN CUU 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Chính sách đất đai và quyền sử dụng đất ở Việt Nam Dé nghiên cứu vê chủ đê sử dung dat, luận văn cân phải tìm hiệu về các chính sách đât đai và quyên sử dụng đât ở Việt Nam nói chung và vùng Tây Băc Việt Nam nói riêng. Các chính sách đất đai ở Việt Nam được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, trong đó có bài viết Một số vấn dé nghiên cứu về chính sách dat dai vùng dong bào dân tộc thiểu số Tây Bắc năm 2019 của tác giả Hoàng Phương Mai.
Nghiên cứu này đã tổng quan hầu hết các văn bản của Dang và Nhà nước từ năm 1981 đến năm 2019 về vấn đề chính sách đất đai ở vùng Tây Bắc Việt Nam và chia những văn bản này thành hai nhóm, thuộc về hai giai đoạn nối tiếp nhau. Giai đoạn từ năm 1981 đến năm 1992 là giai đoạn bắt đầu có những chuyền đổi về mặt chính sách đất đai ở Việt Nam (Hoàng Phương Mai, 2019, tr. Giai đoạn này đánh dấu sự ra đời của Chi thi 100 năm 1981 về thực hiện khoán san phẩm ở các hợp tác xã. Chi thị 100 đã làm tăng sự liên kết giữa nông dân và ruộng dat, giúp cho lĩnh vực nông nghiệp có những tiễn bộ vượt bậc, đặc biệt là trong sản xuất lương thực (Nguyễn Văn Khánh, 2013).
Tiếp đó, Luật Dat dai năm 1987 và Quyết định số 327/CT về Chính sách sử dụng ruộng đất đôi núi trọc, rừng, bãi bôi ven biển và mặt nước được ban hành, đưa các hộ gia đình trở thành đơn vi san xuất quản lý một phần đất rừng, đất bãi bồi. Dé thúc day sự phát triển của sản xuất nông nghiệp, vào ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị Trung ương Dang đã ban hành Nghị quyết 10 - NO/TW “Về đỗi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” hay còn được biết đến là Khoán 10. Nghị quyết này đã giao 10 quyền sử dụng đất nông nghiệp cho các hộ gia đình và chính thức công nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ. Điều này giúp ồn định năng suất và sản lượng khoán, đồng thời tạo ra một động lực mạnh mẽ cho sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Văn Khánh, 2013).
Ở địa ban xã Trịnh Tường, giai đoạn này là thời kì ổn định lại đời sống nhân dân sau Chiến tranh biên giới Việt — Trung. Những chính sách về dat đai của Nha nước đã giao cho người dân Trịnh Tường quyền sử dụng và quản lý nhiều loại đất đai khác nhau, từ đó, khuyến khích người dân khai hoang thêm cũng như tận dụng những mảnh đất bị bỏ hoang sau chiến tranh để phục vụ cho việc phát triển nông lâm nghiệp. Những chính sách này cũng là tiền đề cho xu hướng hạ sơn của nhiều hộ gia đình tộc người thiêu số đến những khu vực có thé tiếp cận và khai phá nhiều đất đai hơn. Giai đoạn từ năm 1992 đến nay là giai đoạn Nhà nước đây mạnh các chính sách đất đai (Hoàng Phương Mai, 2019, tr.
Theo trình tự thời gian, các chính sách đất đai của Nhà nước có anh hưởng nổi bật đến khu vực Tây Bắc có thé ké đến như sau: Đề thực hiện Nghị quyết số 05 - NO/HNTW về Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ngày 10 tháng 6 năm 1993, Quốc hội đã thông qua và ban hành Luật đất đai năm 1993 và Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp trong kì họp thứ 3 của Quốc hội khóa IX năm 1993. Hai văn bản này đã thể chế hóa chính sách đất đai nhằm phục vụ cho yêu cầu kinh tế - xã hội của thời kì này. Tại Hội nghị thứ lần 7 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc ngày 12 tháng 3 năm 2003 đã được ban hành, giải quyết các van dé đất đai, gồm cả đất ở và đất sản xuất nông nghiệp, cho đồng bào tộc người thiêu số, giúp họ ồn định và phát triển sinh kế. Đến năm 2013, Luật Dat dai năm 2013 đã nhận thức sự cần thiết của việc phát triển các chính sách về đất ở, đất sinh hoạt cộng đồng và quy định trách nhiệm 11 của Nhà nước đối với quản lý đất ở, đất sản xuất nông nghiệp đối với đồng bào tộc người thiêu số dé phù hợp với đặc điểm văn hóa, phong tục, và điều kiện thực tế đặc biệt của từng vùng.
Đồng thời, Luật Dat dai năm 2013 cũng nhận thức được sự thiếu hụt các chính sách tạo điều kiện cho đồng bào tộc người thiểu số tham gia trực tiếp vào sản xuất nông nghiệp ở nông thôn, bằng cách phân chia đất đai dé họ có thé phát triển sản xuất nông nghiệp. Ngày 31 tháng 10 năm 2016, Quyết định số 2085/QĐ-TTg về Phê duyệt Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS và miễn núi giai đoạn 2017 — 2020 đã xác định mục tiêu cụ thé là giải quyết vấn đề đất sản xuất và việc làm cho hơn 80% số hộ nghèo đang sinh sống trong các vùng đặc biệt khó khăn và thiếu đất để sản xuất. Ngoài ra, Quyết định số 2085/QĐ-TTg cũng tiếp tục thực hiện và hoàn thành các dự án định canh định cư tập trung, sắp xếp và bố trí dân cư một cách hợp lý, ôn định cuộc sống và thúc đây phát triển sản xuất cho các hộ đồng bào tộc người thiểu số theo Kế hoạch định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số du canh, du cu đến năm 2012 đã được phê duyệt trước đó trong Quyết định số 1342/QĐ-TTg ngày 25 tháng 8 năm 2009. Dé hướng dẫn việc thực thi Quyết định số 2085/QĐ-TTg, Ủy ban Dân tộc đã ban hành Thong tu 02/2017/TT-UBDT ngày 22 thang 5 năm 2017.
Thông tư này đã cung cấp hướng dẫn cụ thể về cách thực hiện chính sách liên quan đến việc hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, tín dụng ưu đãi và chính sách bồ trí sắp xếp dân cư một cách ôn định cho các hộ đồng bào tộc người thiểu số. Cụ thé, các chính sách hỗ trợ trên cần phải được áp dung cho các hộ đồng bào tộc người thiêu số, các hộ nghèo, các hộ đặc biệt khó khăn dựa theo chuẩn hộ nghèo được quy định trong Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ: Về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiêu áp dụng cho giai đoạn 2016 — 2020. Tuy nhiên, các hộ đã được nhận hỗ trợ từ Nghi định số 75/2015/NĐ-CP ngày 9 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ: Về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gan với chính sách giảm nghèo nhanh, bên vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu 12 số giai đoạn 2015 — 2020 sẽ không được nhận hỗ trợ từ những chính sách hỗ trợ mới này. Đối với địa bàn xã Trịnh Tường, các chính sách đất đai được Nhà nước ban hành trong giai đoạn nay đã va đang từng bước bổ sung cho sự thiếu hụt các chính sách tạo điều kiện và hỗ trợ về đất đai cho người dân địa phương.
Họ được phân chia dat dai dé có thé trực tiếp phát triển nông lâm nghiệp, được tạo điều kiện vay những khoản tiền lớn với lãi suất ngân hàng thấp. Bên cạnh đó, giai đoạn này cũng có nhiều chính sách về định canh định cư, hình thành lựa chọn định canh định cư trong lối sống của người dân địa phương như thời điểm hiện tại. Về quyền sử dụng đất, tại Việt Nam, ké từ khi Hiến pháp năm 1980 được ban hành, đã được ghi nhận trong Điều 19 rằng: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý". Nhà nước không tự sử dụng trực tiếp mà ủy quyền cho người sử dụng đất.
Việc người sử dụng đất không có quyền sở hữu cá nhân đối với dat đai ma chỉ có quyên sử dung dat là một chu dé nghiên cứu dang quan tâm. Trong nghiên cứu Về quyên sở hữu dat dai ở Việt Nam xuất bản năm 2013 của Nguyễn Văn Khánh và nghiên cứu Bản chất quyên sử dụng dat dai Việt Nam và sự ảnh hưởng đến cầu trúc của Luật Dat Đai của Hoàng Thị Loan và Nguyễn Ngọc Tuyến xuất bản năm 2022, cả hai bài viết đều nhận định rằng quyền sử dụng đất có thể được hiểu một cách tổng quát nhất là một dạng tài sản, một loại hàng hóa đặc biệt được sinh ra dựa trên quyền sở hữu đất đai và Nhà nước ủy quyền cho các chủ thé cụ thể. Quyền sử dung đất mang theo các quyền và nghĩa vụ liên quan đến tài sản, được quy định theo các điều lệ của Luật Đất đai (Nguyễn Văn Khánh, 2013; Hoàng Thị Loan và Nguyễn Ngọc Tuyến, 2022). Người sử dụng đất hiện tại có quyền tặng hoặc chuyên nhượng quyền sử dung đất theo quy định pháp luật.
Hệ thống quản lý đất đai đã được cải thiện để đáp ứng chính sách mới, đảm bảo quyền lợi của người dân. Họ nhận “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” và có quyền hưởng lợi từ đầu tư trên đất, cũng như thực hiện các hành động như chuyền nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp và góp vốn. Người sử dụng đất phải tuân thủ mục đích 13 sử dung, bảo vệ dat đai và môi trường, nộp thuế, lệ phí, va chi trả tiền sử dung dat. Trong trường hợp thu hồi đất, họ được bồi thường và phải trả lại đất theo quyết định chính quyền (Nguyễn Văn Khánh, 2013, tr.
Hiện trạng này cho thấy răng trong hệ thống pháp luật của Nhà nước về đất đai, vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa quyền sử dụng và quyền sở hữu. Mặc dù người sử dụng đất không nắm giữ quyền sở hữu đất đai nhưng việc có trong tay “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” cũng gần tương tự với việc sở hữu đất đai ở một mức độ nhất định (Nguyễn Van Khánh 2013, tr. Với những địa ban vùng cao như xã Trịnh Tường, người dân hiện đang có quyền hưởng dụng với một số mảnh đất mà họ không có giấy chứng nhận sử dụng đất. Họ vẫn thoải mái sử dụng các quyền tương tự với các quyền lợi mà giấy chứng nhận sử dụng đất có thể mang lại cho họ, ngoại trừ việc sử dụng làm tài sản thế chấp cho ngân hàng.