ĐẶT VẤN ĐỀ Nước CHDCND Lào là một nước có nguồn tài nguyên rừng vô cùng phong phú, điển hình với rất nhiều hệ sinh thái rừng và các loài động thực vật rừng được phân bố trên khắp các tỉnh thành trên cả nước. Nguồn lợi mà chúng mang lại vô cùng lớn. Bên cạnh đó, không thể không nói đến tầm quan trọng của tài nguyên rừng đối với sinh thái, môi trường và cuộc sống của con người. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng lại càng thể hiện tầm quan trọng không thể thiếu trong xã hội loài người.
Tuy vậy, do chưa tiếp cận và chưa hiểu được tầm quan trọng này, con người ngày nay đang dần trở nên tác động, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự biến mất tài nguyên rừng. Dường như con người càng phát triển càng tác động xấu đến tài nguyên rừng. Các thống kê cho thấy những năm gần đây nước ta được xếp vào một trong những nước có tỉ lệ suy thoái tài nguyên rừng nhanh nhất trên thế giới, rất nhiều hệ sinh thái rừng tự nhiên đang đứng trên bờ vực biến mất. Một vấn đề được đặt ra là làm thế nào để có thể nghiên cứu nhằm bảo vệ tài nguyên rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn các loài động, thực vật rừng, cân bằng sinh thái giữa con người với môi trường nhằm đi đến một sự phát triển bền vững.
Quản lý rừng dựa vào cộng đồng ở các vùng cao và các định chế của nó đã tồn tại khách quan trong tiến trình quản lý sử dụng tài nguyên thiên nhiên của các cộng đồng dân tộc thiểu số. Tại CHDCND Lào, ở những bản làng gần sinh sống gần rừng vẫn duy trì phương thức này một cách ngầm định và kiểm soát được hoạt động sử dụng tài nguyên đất, rừng trong cộng đồng; tuy nhiên chúng chưa được đánh giá đầy đủ và thừa nhận một cách chính thức trong hệ thống quản lý tài nguyên hiện nay. Song song với nó, hoạt động lâm nghiệp ở cơ sở chưa có phương pháp tiếp cận thích hợp, vai trò của cộng đồng, người dân trong quản lý kinh doanh rừng chưa coi trọng, cộng đồng dân tộc thiểu số thay vì sử dụng luật tục, truyền thống để bảo vệ và phát triển rừng thì lại đứng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 ngoài cuộc vì rừng chưa mang lại lợi ích cho cộng đồng; điều này đã làm mất đi một nguồn lực quan trọng trong phát triển rừng bền vững ở vùng cao. Bên cạnh đó cộng đồng còn có những kiến thức kinh nghiệm về sinh thái, kỹ thuật, nhân văn trong quản lý sử dụng rừng, tuy nhiên trải qua các thời kỳ hệ thống kiến thức bản địa, sinh thái địa phương cũng đang dần bị mai một, năng lực tự quản của các cộng đồng đang giảm sút.
Vì vậy để phát triển nền lâm nghiệp xã hội thì vấn đề đặt ra là khôi phục, sử dụng, phát huy các thể chế địa phương và các kinh nghiệm truyền thống này là một vấn đề quan trọng. Huyện Long Xan, tỉnh Xay Som Buon là một trong những huyện có diện tích rừng tự nhiên lớn của Lào, người dân tại đây vẫn có những hoạt động săn bắn, khai thác lâm sản trong rừng. Mặc dù vậy, đây cũng là địa phương có những hoạt động quản lý bảo vệ rừng tốt so với các huyện, tỉnh khác tại Lào. Để có được những kết quả như vậy, việc phát huy, tuyên truyền và quản lý rừng dựa vào cộng đồng bản, làng tại nơi đây đã được phát huy và đạt hiệu quả cao.
Xuất phát từ những vấn đề trên tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá vai trò của cộng đồng trong công tác quản lý rừng huyện Long Xan tỉnh Xay Som Buon, nước CHDCND Lào”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình bảo tồn và quản lý rừng trên thế giới Để hạn chế suy thoái tài nguyên nhiên, bảo tồn loài, quần thể và quần xã, hệ sinh thái cho thế hệ mai sau và duy trì sự tồn vong của Trái đất, con người đã có những nỗ lực trong công tác bảo tồn bằng những hành động hiệu quả như thực hiện “Mục tiêu thiên niên kỷ”, hành động cho các điểm nóng “hotspot” về đa dạng sinh học thuộc Global 200 (WWF – Global 200, 1997)[12]. Nỗ lực mạnh mẽ nhất và được đánh giá thành công nhất trong nhiều thập kỷ qua là việc xây dựng hệ thống các KBT bảo tồn loài, bảo tồn hệ sinh thái, nâng cao nhận thức cộng đồng, tạo sinh kế, bảo vệ rừng.
Bên cạnh ảnh hưởng tích cực của việc xây dựng các KBT và các VQG đến hệ sinh thái tự nhiên của địa phương và khu vực cũng như quốc gia và toàn cầu, còn có những ảnh hưởng tiêu cực lên cộng đồng địa phương ở trong các KBT. Những ảnh hưởng đó dẫn đến một số thực trạng sau: - Hạn chế của người dân địa phương trong việc tiếp cận với các loại lâm sản phục vụ cho sinh kế, nơi mà người dân đã chung sống với thiên nhiên qua nhiều thế hệ; - Việc sử dụng tài nguyên đất phục vụ cho canh tác cây trồng, vật nuôi bị hạn chế do một phần được đưa vào KBT; - Văn hóa bản địa bị ảnh hưởng do chính sách phát triển các loại hình du lịch ở khu vực có những đặc trưng khác biệt có thể khai thác vì mục đích kinh tế. Việc xây dựng các KBT là một việc làm quan trọng, nhằm giúp bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sống và nhất là bảo tồn đa dạng sinh học để hướng tới phát triển bền vững. Việc xây dựng các KBT đã tác động rất lớn đến sinh kế của người dân sống phụ thuộc vào việc khai thác tài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 nguyên ở cả vùng đệm cũng như vùng lõi của các KBT.
Việc dung hòa giữa bảo tồn và phát triển kinh tế là một việc làm rất khó khăn. Trên thực tế, có nhiều nghiên cứu đã được tiến hành ở các KBT nhằm tìm ra các biện pháp hợp lý cải thiện sinh kế người dân sống xung quanh, đồng thời bảo vệ được tài nguyên và môi trường trong đó. Nguồn gốc của KBT “hiện đại” có từ thế kỷ thứ 19. VQG Yellowstone là VQG đầu tiên trên thế giới, được thành lập tại Mỹ năm 1874.
Trong vài thập kỷ qua, các KBT trên thế giới đang có xu hướng tăng cả về số lượng và diện tích. Hiện nay trên thế giới có hơn 100.000 khu BTTN (Tạp chí KBT tập 14, số 3, 2004) chiếm 11,7% diện tích đất liền toàn thế giới. VQG chiếm số lượng và diện tích lớn nhất, tiếp đến là các KBT loài và sinh cảnh. Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện một hệ thống quản lý phù hợp trên thực tế nhằm hiện thực hóa các lợi ích tiềm năng mà KBT có thể đem lại vẫn còn là thách thức lớn tại rất nhiều nơi trên thế giới.
Năm 1994 IUCN đã đưa ra định nghĩa về KBT: “KBTTN là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác” (IUCN, 2008)[12]. Năm 1994, tổ chức IUCN cũng đã đưa ra hệ thống phân hạng các KBT. Hệ thống phân hạng 1994 có tất cả 6 phân hạng, bao gồm: - Khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt/Khu bảo vệ hoang dã (Strict Nature Reserve/ Wildeness Area); - Khu dự trữ thiên nhiên (Strict Nature Reserve); - Khu bảo vệ hoang dã (Wildeness Area); - VQG (National Park); - KBT thắng cảnh tự nhiên (National Monument/Natural Landmark); - KBT loài/Sinh cảnh (Habitat/Species Management Area); LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - KBT cảnh quan đất liền/biển (Protected Landscape/Seascape); - KBT kết hợp sử dụng bền vững tài nguyên (Managed Resource Protected Area). Một nghiên cứu của Moenieba Isaacs và Najma Mohamed, thực hiện năm 2000 (Isaacs và nnk, 2000) ở VQG Richtersveld tại Nam Phi chỉ ra rằng việc xây dựng vườn đã có tác động rất lớn đến đời sống của người dân nơi đây.
Dân cư ở đây sống bằng nghề khai thác kim cương, tuy nhiên đời sống của họ là rất khó khăn, cơ sở hạ tầng thấp kém, điều kiện làm việc trong các hầm mỏ nguy hiểm. Bên cạnh đó, việc khai thác của họ ảnh hưởng rất lớn đến đa dạng sinh học trong KBT này. Trong tình hình đó, việc xây dựng KBT đã đưa ra những cam kết giữa người dân và chính quyền nhằm cải thiện sinh kế cho cộng đồng, mặt khác nó làm cho việc bảo tồn đa dạng sinh học của KBT diễn ra có hiệu quả hơn. Người dân cam kết sẽ bảo vệ đa dạng sinh học trong địa phận kiếm sống của họ, còn chính quyền địa phương cam kết sẽ xây dựng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công nhằm nâng cao đời sống của người dân.
Tương tự, tại VQG Kruger, để đạt được quyền sử dụng đất đai, người dân phải xây dựng quy ước bảo vệ môi trường trong khu vực VQG, đồng thời họ cũng được chia sẻ lợi ích thu được từ du lịch., 2000) trích dẫn tại [4]. Ở VQG Vutut tại Canada, vừa là một KBT vừa là khu di sản văn hóa của người bản địa ở vùng Bắc Cực, đời sống của thổ dân ở đây đã được cải thiện rõ rệt khi họ được tham gia vào việc quản lý KBT. Tại đây ban quản lý VQG giúp về kỹ thuật xây dựng các mô hình bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội, còn dân bản địa có thể thực hiện các mô hình đó. Hợp tác quản lý ở đây đã giải quyết hài hòa mâu thuẫn giữa chính sách của chính quyền và bản sắc truyền thống của người dân, bảo đảm cho sự thành công của công tác bảo tồn hoang dã và bảo tồn các di sản văn hóa, đồng thời mang lại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 cuộc sống ổn định cho thổ dân sống phụ thuộc vào khai thác tài nguyên ở vườn., 2013) trích dẫn tại [4].
Shuchenmann (2014) đã đưa ra một ví dụ ở VQG Andringitra, là VQG thứ 14 của nước cộng hòa Madagascar. VQG là một vùng núi có mối liên hệ giữa các hệ sinh thái, sinh cảnh, đa dạng sinh học và cảnh quan cũng như di tích văn hóa. Việc xây dựng VQG đã làm giảm diện tích chăn thả gia súc, khai thác tài nguyên từ rừng phục hồi, gây ảnh hưởng lớn đến sinh kế của cộng đồng. Vì vậy mà việc quản lý và bảo vệ tại VQG này rất khó khăn và phức tạp, (trích dẫn theo Lường Thị Điệp, 2017 [4]).