Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vai trò của Chính phủ trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật; - Chương 2: Thực trạng vai trò của Chính phủ Việt Nam trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật; - Chương 3: Một số yêu cầu và giải pháp nâng cao vai trò của Chính phủ Nam trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện nay. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Nói chung, trong một nhà nước hiện đại, Chính phủ luôn được coi là cơ quan hành pháp cao nhất - Cơ quan có thẩm quyền chung thực hiện hoạt động quản lý và điều hành bao trùm toàn bộ những vấn đề thuộc về đời sống kinh tế - xã hội của một đất nước. Chính phủ tồn tại ở tất cả mọi quốc gia không phân biệt quốc gia đó thuộc chính thể nào. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào từng thể chế chính trị, quan niệm về cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước, truyền thống dân tộc và tương quan giữa các lực lượng trong xã hội mà hình thành nên các thiết chế Chính phủ khác nhau tương ứng ở từng quốc gia.
Việt Nam theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân nên Quốc hội với tư cách là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, do vậy, Quốc hội có quyền thành lập nên các cơ quan nhà nước ở Trung ương, trong đó có Chính phủ. Chính phủ ở Việt Nam được thành lập theo trình tự sau: tại phiên họp đầu tiên của mỗi khóa Quốc hội, Quốc hội bầu Chủ tịch nước. Sau đó, Chủ tịch nước giới thiệu ứng cử viên Thủ tướng trong số các đại biểu Quốc hội để Quốc hội bầu, tiếp theo, Thủ tướng lại trình ra trước Quốc hội danh sách các thành viên Chính phủ theo một nguyên tắc đã được Luật tổ chức Chính phủ xác định để Quốc hội phê chuẩn. Cuối cùng, căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, Chủ tịch nước bổ nhiệm các chức danh này.
Theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) thì Chính phủ được xác định là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam. Với tư cách là cơ quan chấp hành của Quốc hội và là cơ 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan hành chính nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam, tức là Chính phủ nắm quyền hành pháp trong sự phân công giữa ba quyền, lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quyền hành pháp ấy bao gồm hai nội dung cơ bản, quyền lập quy và quyền hành chính [45, tr 295]. - Quyền lập quy là quyền ban hành các văn bản quản lý dưới luật để thực hiện luật, chấp hành luật của Quốc hội.
Tùy theo nội dung, tính chất của công việc mà Chính phủ có thẩm quyền ban hành những loại VBQPPL khác nhau như nghị quyết hay nghị định(*). Văn bản của Chính phủ có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc và là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động của cả hệ thống bộ máy quản lý, là phương tiện chủ yếu bảo đảm việc thi hành các chức năng, nhiệm vụ quản lý trên phạm vi cả nước. - Quyền hành chính là quyền tổ chức, quản lý và điều hành mọi hoạt động kinh tế - xã hội và mọi hành vi của con người trong xã hội theo pháp luật. Tóm lại, với vị trí và vai trò như trên, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam có nhiệm vụ và quyền hạn: thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Để thực hiện các quyền và nhiệm vụ tổng quát trên đây, Chính phủ Việt Nam có những quyền hạn cụ thể như: quyền trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác ra trước Quốc hội và UBTVQH; quyền ra nghị quyết và nghị định căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết (*) Theo Luật ban hành VBQPPL năm 2008 có hiệu lực từ ngày 01.2009 thì nghị quyết của Chính phủ không còn là VBQPPL như quy định của Luât năm 1996 sửa đổi năm 2002 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của UBTVQH, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; quyền xây dựng bộ máy, đào tạo cán bộ và lãnh đạo toàn bộ hệ thống tổ chức hành chính nhà nước; quyền đại diện chủ quyền nhà nước trong quan hệ với các Chính phủ, các tổ chức quốc tế vì lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc; quyền hướng dẫn, kiểm tra hoạt của mọi ngành, mọi cấp, mọi lĩnh vực trong xã hội. Từ những vấn đề nêu trên, và theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, Chính phủ ở Việt Nam có thể được tiếp cận ở những phương diện sau: - Chính phủ là một tập thể các nhà lãnh đạo chính trị gồm Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, do Quốc hội bầu và phê chuẩn. Chính phủ phải chịu trách nhiệm báo cáo công tác với Quốc hội. Ngoài ra, với đặc thù riêng có của Việt Nam, Chính phủ còn phải báo cáo công tác với Ủy ban thường vụ Quốc hội – cơ quan thường trực của Quốc hội, với Chủ tịch nước là những cơ quan, thiết chế do Quốc hội thành lập; - Về cơ cấu tổ chức, hiện nay, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam gồm có các bộ, cơ quan ngang bộ.
- Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội đồng thời cũng là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của đất nước. Để bảo đảm hai vai trò này Chính phủ có trách nhiệm thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân [19, tr 129]; 1. Vai trò của Chính phủ Việt Nam trong quá trình xây dựng, ban hành VBQPPL 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm VBQPPL và quá trình xây dựng, ban hành VBQPPL a, Khái niệm VBQPPL Điều 1 Luật ban hành VBQPPL năm 1996 (sửa đổi năm 2002) quy định về VBQPPL như sau: “VBQPPL là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [20].
Cũng tại Điều 1 Luật ban hành VBQPPL mới, được Quốc hội thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 quy định: “VBQPPL là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này … trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung được nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội” [21, tr 7]. Từ các quy định trên của Luật, qua các thời kỳ khác nhau có thể nhận thấy hai dấu hiệu đặc trưng cơ bản của VBQPPL như sau: Một là, VBQPPL được áp dụng chung mang tính rộng rãi, nhiều lần chứ không chỉ áp dụng cho một đối tượng hay cá nhân cụ thể nào một cách xác định. Hai là, việc áp dụng VBQPPL mang tính bắt buộc. Bên cạnh việc được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp như tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, các biện pháp về hành chính, kinh tế … thì trong trường hợp cần thiết nhà nước sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế bắt buộc phải thi hành.
Trên thực tế hiện nay, thường có sự lẫn lộn giữa VBQPPL với văn bản có tính chất chủ đạo, là hình thức thể hiện các quyết định pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm đề ra các chủ trương lớn, các đường lối, các nhiệm vụ có tính chiến lược, quyết định những vấn đề chung của cả quốc gia hoặc một địa phương. Về nguyên tắc, chủ trương, chính sách rất 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan trọng nhưng không làm thay đổi được hành vi như pháp luật, chính các quy phạm pháp luật cụ thể mới làm thay đổi được hành vi của con người. Do đó, trước hết cần phải phân biệt giữa chính sách và pháp luật thì mới có thể phân biệt được VBQPPL với các loại văn bản quản lý, điều hành [37, tr 321]. Tóm lại, từ quy định của Luật ban hành VBQPPL năm 1996 và Luật năm 2008 với các dấu hiệu đặc trưng như đã nêu trên, có thể định nghĩa về VBQPPL như sau: VBQPPL là văn bản được áp dụng chung, mang tính cưỡng chế, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành theo hình thức và trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
Hệ thống và chủ thể ban hành VBQPPL ở nước ta theo luật năm 1996 (sửa đổi năm 2002) bao gồm: Hiến pháp, luật, nghị quyết do Quốc hội ban hành; pháp lệnh, nghị quyết do UBTVQH ban hành; lệnh, quyết định do Chủ tịch nước ban hành; nghị quyết, nghị định do Chính phủ ban hành; quyết định, chỉ thị do Thủ tướng Chính phủ ban hành; quyết định, chỉ thị, thông tư do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành; Nghị quyết do Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ban hành; quyết định, chỉ thị, thông tư do Chánh án tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành; nghị quyết, thông tư liên tịch do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc cùng với các tổ chức chính trị - xã hội ban hành; nghị quyết do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã ban hành; quyết định, chỉ thị do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã ban hành.