Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu khoa học của nghiên cứu sinh Đỗ Duy Hưng với đề tài "Ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân trong giai đoạn hiện nay" được thực hiện tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Tạ Ngọc Tấn, bảo vệ năm 2021 theo mã số chuyên ngành Báo chí học (932 01 01).

Tính cấp thiết của đề tài và khoảng trống nghiên cứu

Trong bối cảnh nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có bước phát triển mới về nội dung, tính chất, phạm vi và phương thức hoạt động, Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện đồng thời chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Các thế lực thù địch tăng cường chống phá trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa như một "mũi đột phá", xuyên tạc lý luận, thúc đẩy chiến lược "Diễn biến hòa bình", nhằm thực hiện mục tiêu "phi chính trị hóa" quân đội và kích động "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Bên cạnh đó, mặt trái của kinh tế thị trường tạo ra những tác động tiêu cực đến đời sống và tâm lý của bộ đội.

Báo chí quân đội đóng vai trò là vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tuy nhiên, theo các báo cáo tổng kết của Cục Tuyên huấn (Tổng cục Chính trị), công tác thông tin tuyên truyền của báo chí quân đội còn bộc lộ một số hạn chế: hình thức tuyên truyền chưa thật phong phú, nội dung có mặt còn đơn giản, chưa bám sát thực tiễn; sự phối hợp giữa các cơ quan báo chí với cơ quan chỉ đạo, quản lý chưa thật thường xuyên; việc tuyên truyền bằng tiếng nước ngoài trên báo điện tử còn hạn chế. Những tác động và hạn chế này đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu cơ bản, hệ thống và chuyên sâu về ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân, đặc biệt là đối tượng học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội tại các nhà trường quân đội.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát thực tế và đánh giá ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân (thông qua khảo sát học viên đào tạo cấp phân đội), luận án đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tác động của báo chí quân đội tại các nhà trường quân đội hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Xây dựng khung lý thuyết và công cụ khảo sát ảnh hưởng của báo chí quân đội đến nhận thức chính trị - tư tưởng của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở các nhà trường quân đội.
    2. Khảo sát, đánh giá thực trạng và rút ra tính chất, đặc điểm sự tác động của các nhân tố, điều kiện chi phối chất lượng, hiệu quả ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội.
    3. Dự báo xu hướng và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao sự ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với nhận thức chính trị - tư tưởng của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Luận án đặt ra hệ thống các giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu trọng tâm:

  1. Báo chí quân đội là một kênh quan trọng trong công tác giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị - tư tưởng cho quân nhân; nhận thức và thực tiễn công tác báo chí đã thể hiện đúng quan điểm đó chưa?
  2. Ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho quân nhân trong điều kiện hiện nay diễn ra như thế nào; đâu là thành công, hạn chế và nguyên nhân của những thành công, hạn chế đó?
  3. Những yếu tố nào tác động, chi phối đến hiệu quả ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho quân nhân?
  4. Giải pháp và điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho quân nhân trong bối cảnh hiện nay là gì?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam thông qua khảo sát học viên đào tạo cấp phân đội.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Nội dung: Các yếu tố của báo chí quân đội tác động tới quá trình tiếp nhận và biến đổi nhận thức chính trị - tư tưởng của học viên đào tạo cán bộ cấp phân đội trình độ đại học.
    • Khách thể khảo sát: Học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội trình độ đại học tại 4 cơ sở đại diện cho 4 khối chuyên môn quân sự: Trường Sĩ quan Lục quân 1 (khối Tham mưu), Trường Sĩ quan Chính trị (khối Chính trị), Học viện Hậu cần (khối Hậu cần), Học viện Kỹ thuật Quân sự (khối Kỹ thuật).
    • Cơ quan báo chí khảo sát: Báo Quân đội nhân dân (bao gồm báo in và báo điện tử) và Kênh truyền hình Quốc phòng Việt Nam.
    • Thời gian nghiên cứu: Khảo sát dữ liệu và thực tiễn trong khoảng thời gian 2 năm, từ đầu năm 2016 đến hết năm 2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan nghiên cứu của luận án được cấu trúc thành hai nhóm công trình chính:

Các hướng nghiên cứu trước liên quan đến đề tài

  • Nhóm công trình về tác động của báo chí truyền thông đối với nhận thức, tư tưởng và dư luận xã hội:
    • Nghiên cứu về vai trò chính trị - tư tưởng của báo chí: Tác giả Tạ Ngọc Tấn với các bài báo "Vai trò báo chí trong hoạt động chống diễn biến hòa bình về tư tưởng văn hóa" (Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền số 5), "Khuynh hướng chính trị tư tưởng trong báo chí" (Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền số 8), đề tài "Tác động của báo chí đối với việc xây dựng lối sống tích cực của thanh niên sinh viên hiện nay" (1998), sách "Hồ Chí Minh về báo chí"; Vũ Duy Thông (chủ biên) với cuốn "Mác-Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh bàn về báo chí xuất bản" (2004); Lê Văn Toan (chủ biên, 2011) với "Quan điểm của C. Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về báo chí".
    • Nghiên cứu về cơ chế tác động truyền thông và dư luận xã hội: Lưu Văn An (chủ biên, 2008) với "Truyền thông đại chúng trong hệ thống tổ chức quyền lực chính trị ở các nước tư bản phát triển"; Lương Khắc Hiếu (2009) về "Vai trò của báo chí và dư luận xã hội trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta hiện nay"; Đỗ Chí Nghĩa (2010) với luận án tiến sĩ "Vai trò của báo chí trong định hướng dư luận xã hội"; Nguyễn Văn Dững (2011) với giáo trình "Báo chí và dư luận xã hội"; Phạm Thị Thanh Tịnh (2013) với "Công chúng báo chí"; Vũ Thanh Vân (2015) với luận án "Khuynh hướng chính trị của báo chí Mỹ".
    • Tài liệu nước ngoài về tác động truyền thông: T. Rovinskaja (2008) về phương pháp tác động lên nhận thức xã hội của phương tiện thông tin đại chúng; Ledjukova (2011) về phép đo chức năng phương tiện thông tin đại chúng; Tammy L. Miracle (2003) trên tạp chí Military Review; Sevastyanov S, Apanasenko (2015), V. Timofeev (2007), Ju. Klenov (2007); A. Nal’deev (2008) về hoạt động tâm lý chiến qua báo chí của quân đội Mỹ tại Afghanistan và Iraq; S. Zavalov về đấu tranh chống tuyên truyền khủng bố trên Internet; Cứu Tiên Hạc về nâng cao sức cạnh tranh của truyền hình quân sự trên Internet.
  • Nhóm công trình về giáo dục chính trị - tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam:
    • Nghiên cứu bản chất, chất lượng và giải pháp công tác tư tưởng trong quân đội: Cao Xuân Trung (Luận án tiến sĩ tâm lý học); Nguyễn Văn Cần (Luận án tiến sĩ triết học); Nguyễn Văn Quyết (1990); Dương Văn Lượng (1994); Trần Ngọc Tuệ (1996); Nguyễn Đình Tu (1996); Nguyễn Đức Tiến (1999); Nguyễn Văn Dưỡng (2001); Nguyễn Trung Thông (2004); Lương Ngọc Vĩnh (2012) với luận án "Hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng trong học viên các học viện quân sự ở nước ta hiện nay".
    • Nghiên cứu về đấu tranh phòng chống "Diễn biến hòa bình" và bảo vệ nền tảng tư tưởng: Nguyễn Bá Dương (2010, 2015); Trần Ngọc Tuệ (chủ biên, 2012); Trần Doãn Tiến (2010); Nguyễn Đình Minh (2016); Đề tài cấp Bộ Quốc phòng mã số 2009.015 do Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự chủ trì (2011); Hoàng Văn Khiêm (2015).
    • Tài liệu lý luận quân sự nước ngoài: Các tài liệu của Liên Xô (D. Vôn-cô-gô-nốp, V. Xu-khôm-lin-xki, X. Xu-rơ-ni-tren-cô, Từ điển bách khoa quân sự Xô-Viết); tài liệu của Trung Quốc (Lý Vĩnh Thắng, Giáo trình của Đại học Quốc phòng Trung Quốc 1986, Giáo trình Ban Tuyên huấn Trung ương ĐCSTQ); luận án của Sỏn Xay Chăn Nha Lạt (2012) về quân đội Lào; bài viết của Kapralov F (2016) về huấn luyện tâm lý quân nhân Nhật Bản; P. Sitov (2013) về tư tưởng - tâm lý quân nhân Mỹ.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Mặc dù các công trình đi trước đã làm rõ lý luận chung về truyền thông đại chúng và công tác giáo dục chính trị trong quân đội, cũng như khảo sát đơn lẻ một số ấn phẩm, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu và có hệ thống về sự ảnh hưởng của hệ thống báo chí quân đội (tiêu biểu là Báo Quân đội nhân dân và Kênh truyền hình Quốc phòng Việt Nam) đối với nhận thức chính trị - tư tưởng của học viên đào tạo cán bộ sĩ quan cấp phân đội thuộc đủ 4 khối chuyên ngành quân sự: tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật. Luận án giải quyết trực tiếp khoảng trống này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung khái niệm

  • Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về báo chí cách mạng, về giai cấp, đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa; kết hợp vận dụng các lý thuyết báo chí truyền thông hiện đại.
  • Khái niệm công cụ cốt lõi:
    • Báo chí quân đội: Là những sản phẩm báo chí của các cơ quan báo chí Quân đội nhân dân Việt Nam, dưới sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, đảng ủy chỉ huy các cấp, các ngành trong quân đội, tuyên truyền về hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phục vụ đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân và nhân dân cả nước.
    • Nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân: Hệ thống tri thức, tình cảm, niềm tin, lý tưởng cách mạng và bản lĩnh chính trị của người quân nhân cách mạng, quyết định trực tiếp đến hành vi, ý chí sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận đa ngành và liên ngành, kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng:

Phương pháp Quy mô / Cách thức triển khai Mục đích dữ liệu
Nghiên cứu tài liệu Phân tích các văn kiện của Đảng, Quân ủy Trung ương, báo cáo của Tổng cục Chính trị, tác phẩm báo chí, lý thuyết báo chí. Xây dựng cơ sở lý luận, khung phân tích và tiêu chí đánh giá.
Phân tích - Tổng hợp Hệ thống hóa các bài viết, ấn phẩm báo chí và báo cáo tổng kết thực tiễn. Rút ra các kết luận về thành công, hạn chế của công tác thông tin báo chí quân đội.
Lịch sử - Lôgíc Theo dõi sự vận động lịch sử của báo chí quân đội gắn liền với quá trình xây dựng lực lượng vũ trang. Phát hiện quy luật vận động, bản chất mối quan hệ giữa báo chí và nhận thức quân nhân.
Điều tra bằng bảng hỏi (Định lượng) Phát phiếu điều tra với tổng cộng 650 phiếu, gồm:
- 500 phiếu học viên tại 4 trường (125 phiếu/trường: Sĩ quan Lục quân 1, Sĩ quan Chính trị, HV Hậu cần, HV Kỹ thuật Quân sự).
- 150 phiếu dành cho các nhà báo.
Thu thập dữ liệu thống kê về tần suất, nhu cầu, thói quen, mức độ đánh giá và sự chuyển biến nhận thức của công chúng quân nhân.
Phỏng vấn sâu (Định tính) Thực hiện phỏng vấn 56 người, gồm:
- 16 người là lãnh đạo cơ quan báo chí, nhà báo, chuyên gia báo chí truyền thông.
- 40 người là chính trị viên tiểu đoàn và học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội.
Thu thập đánh giá chuyên sâu, lý giải các cơ chế tác động tâm lý - nhận thức và định hướng tiếp nhận.
Phương pháp hệ thống & Tổng kết thực tiễn Phân loại nội dung, hình thức tin bài; tổng kết mô hình tổ chức hướng dẫn bộ đội đọc báo, xem truyền hình. Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có tính khả thi.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân trong giai đoạn hiện nay

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về báo chí quân đội và nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân, phân tích bối cảnh và cơ cấu của hệ thống báo chí quân sự Việt Nam:

  • Khái quát hệ thống báo chí quân đội: Toàn quân có 60 cơ quan báo chí được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép, phân bổ như sau:
    • 07 cơ quan báo chí do Tổng cục Chính trị trực tiếp chỉ đạo, quản lý.
    • 12 cơ quan báo chí của các quân khu, quân chủng, Báo Biên phòng và Báo Quốc phòng Thủ đô.
    • 41 tạp chí chuyên ngành thuộc các tổng cục, học viện, viện nghiên cứu, trường đại học và bệnh viện quân đội.
  • Đặc thù của Báo Quân đội nhân dân và Kênh truyền hình Quốc phòng Việt Nam:
    • Báo Quân đội nhân dân: Là cơ quan của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Cơ cấu ấn phẩm gồm 4 loại hình:
      1. Báo in hàng ngày (8 trang, số lượng phát hành 50.000 bản/kỳ).
      2. Báo Cuối tuần (16 trang, số lượng phát hành 28.000 bản/kỳ).
      3. Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng (32 trang, xuất bản hàng tháng, số lượng phát hành 24.000 bản/kỳ).
      4. Báo điện tử QĐND (xuất bản các thứ tiếng: tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Lào, tiếng Khmer).
    • Kênh truyền hình Quốc phòng Việt Nam: Là kênh truyền hình chuyên biệt về quân sự, quốc phòng, thực hiện nhiệm vụ phát sóng các bản tin, chuyên đề, phóng sự về hoạt động của lực lượng vũ trang và đối ngoại quốc phòng.
  • Đặc điểm báo chí quân đội:
    • Đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương, sự quản lý của Bộ Quốc phòng mà trực tiếp là Tổng cục Chính trị.
    • Nội dung tập trung tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về quốc phòng - an ninh, xây dựng quân đội; là mũi nhọn xung kích trên mặt trận tư tưởng, phản bác quan điểm sai trái, thù địch.
    • Đội ngũ nhà báo đồng thời là quân nhân; đối tượng tiếp nhận trọng tâm là cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân.
  • Lý luận về nhận thức chính trị - tư tưởng: Xác định các thành tố cấu thành nhận thức của quân nhân, bao gồm: tri thức lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; sự tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng; ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật quân đội; tinh thần cảnh giác cách mạng và bản lĩnh kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Chương 2: Nội dung, hình thức ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân trong giai đoạn hiện nay

Chương 2 đi sâu phân tích thực trạng các nội dung, hình thức và phương thức mà báo chí quân đội sử dụng để tác động vào nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân:

  • Nhận thức của cơ quan báo chí quân đội: Các cơ quan báo chí quân đội luôn xác định chức năng định hướng nhận thức chính trị - tư tưởng là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, quán triệt nghiêm túc sự chỉ đạo của Tổng cục Chính trị.
  • Nội dung thông tin định hướng:
    • Tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
    • Tuyên truyền về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân.
    • Phát hiện, biểu dương, nhân rộng các nhân tố mới, điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua Quyết thắng và học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
    • Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, vạch trần âm mưu "Diễn biến hòa bình", thủ đoạn "phi chính trị hóa" quân đội của các thế lực phản động; phòng, chống các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.
  • Hình thức và phương thức chuyển tải thông tin:
    • Sử dụng đa dạng các thể loại báo chí: bài xã luận, chuyên luận, bình luận chính trị, phóng sự điều tra, tọa đàm bàn tròn, ký sự nhân vật.
    • Kết hợp giữa phương thức truyền thống (đọc báo tập trung tại đơn vị, phát thanh nội bộ) với phương thức hiện đại (truyền hình trực tiếp, báo điện tử đa phương tiện, đồ họa thông tin, video clip số).

Chương 3: Hiệu quả tiếp nhận thông tin từ báo chí quân đội về nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân trong giai đoạn hiện nay

Chương 3 trình bày các kết quả phân tích định lượng (từ 500 phiếu học viên và 150 phiếu nhà báo) cùng dữ liệu phỏng vấn sâu tại 4 học viện, nhà trường quân đội:

  • Các yếu tố tác động đến nhận thức của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội:
    • Yếu tố khách quan: Sự bùng nổ của mạng xã hội, internet; sự đa dạng, phức tạp của luồng thông tin đa chiều; mặt trái cơ chế thị trường; thủ đoạn xuyên tạc tinh vi của các thế lực thù địch.
    • Yếu tố chủ quan: Tuổi đời của học viên còn trẻ, đang trong quá trình hình thành thế giới quan và bản lĩnh chính trị; tính chất môi trường đào tạo quân sự nghiêm ngặt, khép kín; nhu cầu giải trí và tiếp cận thông tin thời đại mới.
  • Nhu cầu và thói quen tiếp nhận thông tin:
    • Học viên các trường Sĩ quan Lục quân 1, Sĩ quan Chính trị, Học viện Hậu cần, Học viện Kỹ thuật Quân sự có nhu cầu thông tin cao về tình hình thời sự quốc tế, chủ quyền biển đảo, vũ khí trang bị mới và các bài viết đấu tranh tư tưởng.
    • Thói quen tiếp nhận thông qua các chế độ đọc báo, xem thời sự bắt buộc tại phân đội, kết hợp việc tự tìm đọc các ấn phẩm Báo QĐND Cuối tuần, nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng, và truy cập Báo QĐND điện tử, Kênh Truyền hình QPVN trong giờ nghỉ, ngày nghỉ.
  • Đánh giá hiệu quả tiếp nhận và tác động nhận thức:
    • Mặt tích cực: Đa số học viên khẳng định thông tin từ báo chí quân đội giúp củng cố niềm tin vào Đảng, làm rõ mục tiêu lý tưởng chiến đấu, nâng cao cảnh giác cách mạng và cung cấp luận cứ vững chắc để giải thích, định hướng cho cấp dưới sau khi tốt nghiệp.
    • Mặt hạn chế, bất cập: Một bộ phận học viên đánh giá một số bài viết lý luận còn khô cứng, khuôn mẫu, dung lượng dài, thiếu tính tương tác trực quan; thông tin giải trí và công nghệ quân sự cập nhật chưa thực sự kịp thời so với một số kênh truyền thông mở trên internet.

Chương 4: Dự báo tình hình và một số giải pháp nâng cao sự ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân trong giai đoạn hiện nay

Chương 4 đưa ra các dự báo khoa học và hệ thống giải pháp toàn diện:

  • Dự báo tình hình:
    • Tình hình an ninh chính trị thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; các cuộc chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý trên không gian mạng ngày càng tinh vi.
    • Các thế lực thù địch tiếp tục coi mặt trận tư tưởng - văn hóa là trọng điểm phá hoại, tập trung vào đối tượng sĩ quan trẻ, học viên nhà trường quân đội.
    • Sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi báo chí quân sự phải chuyển đổi số mạnh mẽ về mô hình tòa soạn và công nghệ phân phối nội dung.
  • Hệ thống giải pháp chủ yếu:
    1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp, cơ quan quản lý: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ủy các cấp đối với công tác báo chí quân sự; duy trì nghiêm nền nếp chế độ đọc báo, nghe đài, xem truyền hình trong toàn quân.
    2. Đổi mới nội dung, hình thức và phương thức thông tin của báo chí quân đội: Xây dựng các chuyên trang, chuyên mục chuyên sâu, bài viết sắc bén, ngắn gọn, hấp dẫn; tăng cường ứng dụng đa phương tiện (infographic, podcast, video clip) trên báo điện tử và mạng xã hội quân sự.
    3. Nâng cao chất lượng đội ngũ người làm báo quân đội: Xây dựng đội ngũ cán bộ, phóng viên, biên tập viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, trình độ lý luận cao và làm chủ công nghệ làm báo hiện đại.
    4. Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan báo chí với các cơ sở đào tạo quân đội: Thiết lập cơ chế cung cấp thông tin hai chiều giữa tòa soạn báo với các học viện, trường sĩ quan; xây dựng mạng lưới thông tin viên, cộng tác viên là cán bộ, giảng viên, học viên nhà trường.
    5. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật công nghệ: Hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin, bảo đảm trang bị kỹ thuật làm báo theo hướng hiện đại, xây dựng hệ sinh thái truyền thông số quân đội gắn với bảo đảm an toàn thông tin quân sự.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về ảnh hưởng của báo chí quân đội đối với nhận thức chính trị - tư tưởng của quân nhân, đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển của truyền thông số.
  • Làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa công tác thông tin, tuyên truyền của báo chí quân sự với quá trình chuyển biến nhận thức, hình thành niềm tin và bản lĩnh chính trị của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội - lực lượng nòng cốt kế cận của Quân đội nhân dân Việt Nam.
  • Góp phần củng cố quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về đấu tranh tư tưởng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và chống âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng tin cậy thông qua kết quả khảo sát 650 bảng hỏi và 56 cuộc phỏng vấn sâu tại 4 học viện, trường sĩ quan đại diện cho 4 khối chuyên môn (tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật).
  • Đánh giá thực trạng ưu điểm, hạn chế và rào cản trong quá trình truyền tải, tiếp nhận thông tin từ Báo Quân đội nhân dân và Kênh truyền hình Quốc phòng Việt Nam của học viên quân sự.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, cụ thể, có tính ứng dụng thực tiễn cao cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, các cơ quan thông tấn báo chí quân đội và các cơ sở đào tạo sĩ quan trong việc đổi mới công tác giáo dục chính trị - tư tưởng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi khảo sát khách thể quân nhân giới hạn tập trung ở học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội tại 4 trường quân đội khu vực phía Bắc (Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Chính trị, Học viện Hậu cần, Học viện Kỹ thuật Quân sự), chưa mở rộng khảo sát tới các đơn vị chiến đấu, quân đoàn chủ lực, các vùng biên cương, hải đảo.
    • Đối tượng cơ quan báo chí khảo sát trọng tâm là Báo Quân đội nhân dân và Kênh truyền hình Quốc phòng Việt Nam, chưa bao quát chi tiết toàn bộ 60 cơ quan báo chí, tạp chí trong toàn quân.
    • Khoảng thời gian khảo sát thực nghiệm tập trung trong giai đoạn 2016 - 2017.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các đối tượng quân nhân khác (sĩ quan cấp chiến dịch, chiến lược, hạ sĩ quan - binh sĩ tại các đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu).
    • Nghiên cứu ảnh hưởng của hệ sinh thái truyền thông số, mạng xã hội và các sản phẩm báo chí dữ liệu quân sự đối với tâm lý, nhận thức chính trị của lực lượng vũ trang trong điều kiện mới.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng đối với các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí quân đội (Tổng cục Chính trị, Cục Tuyên huấn): Cung cấp luận cứ thực tiễn để hoạch định chính sách thông tin, quy hoạch mạng lưới báo chí quân đội và chỉ đạo định hướng dư luận xã hội trong lực lượng vũ trang.
  • Các cơ quan báo chí quân đội (Báo QĐND, Truyền hình QPVN, Báo Quân khu, Báo Quân chủng): Cung cấp dữ liệu chi tiết về nhu cầu, thói quen và phản hồi của bạn đọc quân nhân, giúp biên tập viên đổi mới nội dung, cấu trúc ấn phẩm và nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục của tác phẩm báo chí.
  • Các học viện, trường sĩ quan quân đội: Giúp đội ngũ cán bộ quản lý, chính trị viên, giảng viên khoa học xã hội nhân văn nắm bắt tâm lý tiếp nhận thông tin của học viên để kết hợp hiệu quả giữa giảng dạy chính trị với công tác thông tin báo chí tại đơn vị.
  • Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên ngành Báo chí học, Truyền thông đại chúng, Xây dựng Đảng: Nguồn tài liệu tham khảo chuyên ngành về phương pháp luận nghiên cứu xã hội học báo chí, kỹ thuật khảo sát bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu trong môi trường đặc thù quân sự.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn khảo sát thực tế tại những cơ sở đào tạo quân sự nào và dựa trên cơ sở phân loại nào?

Luận án khảo sát học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội trình độ đại học tại 4 học viện, nhà trường đại diện cho 4 khối chuyên môn quân sự cốt lõi:

  1. Trường Sĩ quan Lục quân 1: Đại diện khối chuyên môn Tham mưu, chỉ huy tác chiến.
  2. Trường Sĩ quan Chính trị: Đại diện khối chuyên môn Công tác đảng, công tác chính trị.
  3. Học viện Hậu cần: Đại diện khối chuyên môn Bảo đảm Hậu cần quân sự.
  4. Học viện Kỹ thuật Quân sự: Đại diện khối chuyên môn Kỹ thuật, công nghệ quân sự.

2. Quy mô mẫu điều tra xã hội học và phỏng vấn sâu của luận án được tiến hành như thế nào?

Luận án thực hiện thu thập dữ liệu qua hai kênh:

  • Điều tra bằng bảng hỏi định lượng (650 phiếu): 500 phiếu dành cho học viên đào tạo cấp phân đội (mỗi trường 125 phiếu) và 150 phiếu dành cho các nhà báo quân sự.
  • Phỏng vấn sâu định tính (56 người): 16 người là lãnh đạo cơ quan báo chí, nhà báo, chuyên gia truyền thông; 40 người là chính trị viên tiểu đoàn và học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội.

3. Cơ cấu tổ chức và quy mô phát hành của Báo Quân đội nhân dân được luận án nêu ra gồm những ấn phẩm nào?

Tại thời điểm nghiên cứu, Báo Quân đội nhân dân có 4 ấn phẩm chính:

  • Báo QĐND hàng ngày: Dung lượng 8 trang, số lượng phát hành 5 vạn (50.000) bản/kỳ.
  • Báo QĐND Cuối tuần: Dung lượng 16 trang, số lượng phát hành 2,8 vạn (28.000) bản/kỳ.
  • Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng: Dung lượng 32 trang, xuất bản hàng tháng, số lượng phát hành 2,4 vạn (24.000) bản/kỳ.
  • Báo điện tử QĐND: Xuất bản các phiên bản tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Lào, tiếng Khmer.

4. Hệ thống báo chí Quân đội nhân dân Việt Nam có quy mô cơ quan báo chí như thế nào theo số liệu trong văn bản?

Toàn quân có 60 cơ quan báo chí được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép hoạt động, bao gồm:

  • 07 cơ quan báo chí do Tổng cục Chính trị trực tiếp chỉ đạo, quản lý.
  • 12 báo của các quân khu, quân chủng, Báo Biên phòng và Báo Quốc phòng Thủ đô.
  • 41 tạp chí chuyên ngành thuộc các tổng cục, học viện, viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện quân y.

5. Những bất cập chính của báo chí quân đội được luận án chỉ ra qua các báo cáo thực tiễn là gì?

Theo các báo cáo tổng kết của Cục Tuyên huấn (Tổng cục Chính trị) được trích dẫn trong văn bản, báo chí quân đội còn các hạn chế: hình thức tuyên truyền chưa thật phong phú, chưa thu hút được nhiều bạn đọc; nội dung tuyên truyền có mặt còn giản đơn, chưa cập nhật và bám sát đời sống bộ đội; sự phối hợp giữa các cơ quan báo chí với cơ quan chỉ đạo, quản lý chưa thường xuyên trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái; thông tin tuyên truyền, định hướng dư luận bằng tiếng nước ngoài trên báo, tạp chí điện tử chưa tương xứng.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Đỗ Duy Hưng là công trình nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữa báo chí quân đội và nhận thức chính trị - tư tưởng của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Tác giả đã kết hợp khung lý luận báo chí cách mạng với các phương pháp khảo sát xã hội học định lượng (650 phiếu) và định tính (56 cuộc phỏng vấn sâu) tại 4 học viện, trường sĩ quan đại diện cho 4 khối chuyên môn. Kết quả nghiên cứu khẳng định vị trí xung kích của Báo Quân đội nhân dân và Truyền hình Quốc phòng Việt Nam trên mặt trận tư tưởng, đồng thời cung cấp hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả định hướng tư tưởng, phòng chống "Diễn biến hòa bình" và "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong quân đội hiện nay.