Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975" do nghiên cứu sinh Lưu Thị Bích Ngọc thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Bình Ban. Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, mã số đào tạo 92 29 013, bảo vệ năm 2022 tại Hà Nội.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), lực lượng Công an nhân dân nói chung và Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam (BANTƯC) nói riêng giữ vị trí trọng yếu trong việc bảo vệ tổ chức Đảng, lãnh đạo chỉ huy, vùng căn cứ và phong trào cách mạng. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu lịch sử kháng chiến và lịch sử Công an nhân dân được xuất bản, song chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, chuyên biệt, toàn diện và có hệ thống về vai trò, hoạt động tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam trong toàn bộ tiến trình lịch sử từ năm 1960 đến năm 1975. Luận án được triển khai nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này, làm rõ tính tất yếu thành lập, mô hình tổ chức bộ máy và những đóng góp của tổ chức này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là phân tích, làm sáng tỏ vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975, từ đó đúc kết các bài học kinh nghiệm phục vụ công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân hiện nay.

Để đạt được mục tiêu trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, bao gồm các công trình khoa học chung về kháng chiến chống Mỹ và các công trình khoa học chuyên ngành Công an nhân dân.
  2. Phân tích tính tất yếu khách quan của sự ra đời và quá trình phát triển tổ chức, bộ máy của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975.
  3. Làm rõ vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam trong công tác tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức cuộc đấu tranh chống phản cách mạng, bảo vệ an ninh, trật tự ở miền Nam từ tháng 7-1960 đến ngày 30-4-1975.
  4. Đánh giá những ưu điểm, hạn chế cùng nguyên nhân trong hoạt động tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức công tác an ninh ở miền Nam; đồng thời rút ra các bài học kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục trong tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức cuộc đấu tranh chống phản cách mạng, bảo vệ an ninh, trật tự ở miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung làm rõ sự cần thiết thành lập, sự phát triển tổ chức bộ máy, vai trò tham mưu và sự chỉ đạo trực tiếp toàn diện đối với cuộc đấu tranh chống phản cách mạng, bảo vệ an ninh, trật tự tại miền Nam.
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 7-1960 (thời điểm Xứ ủy Nam Bộ ra Chỉ thị thành lập Ban Bảo vệ an ninh Xứ ủy) đến ngày 30-4-1975 (ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam; Ban An ninh Trung ương Cục kết thúc sứ mệnh lịch sử vào tháng 2-1976).
  • Phạm vi không gian: Địa bàn chỉ đạo của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam được xác định từ tỉnh Ninh Thuận đến Cà Mau (chiến trường B2). Từ tháng 7-1960 đến trước tháng 4-1966, địa bàn bao gồm từ nam vĩ tuyến 17 trở vào; từ tháng 4-1966, An ninh Khu Trị - Thiên - Huế và An ninh Khu V chuyển về trực thuộc Trung ương Đảng và Đảng đoàn Bộ Công an quản lý trực tiếp, phạm vi hoạt động của Ban An ninh Trung ương Cục giới hạn từ Ninh Thuận trở vào.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã khảo sát và phân loại hệ thống công trình nghiên cứu liên quan thành ba nhóm tư liệu chính:

Nhóm công trình Tác giả, công trình tiêu biểu và năm công bố Nội dung chính đã phản ánh
Công trình chung về kháng chiến chống Mỹ và chiến tranh Việt Nam - Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1996, 2000).
- Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử Nam Bộ kháng chiến, Trần Bạch Đằng chủ biên (2012).
- Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2013, 9 tập).
- Luận án tiến sĩ: Hà Minh Hồng (1997), Trần Thị Thu Hương (2000), Trần Như Cương (2003), Phí Văn Thức (2006), Chu Đình Lộc (2011).
Tổng kết đường lối, phương pháp, chiến lược chiến tranh nhân dân, phong trào đấu tranh chính trị - quân sự, chống bình định và phá ấp chiến lược trên các chiến trường miền Nam.
Công trình về CAND và An ninh miền Nam - Sách lịch sử an ninh địa phương: Ngô Quang Nghĩa (1995), Trần Cường (1997), Nguyễn Đình Bảy (2006), Nguyễn Đức Minh (2007), Nguyễn Trọng Khuê (2008), Vũ Kim Dung (2010), Huỳnh Hữu Chiến (2010).
- Chuyên đề nghiệp vụ và tổng kết ngành: Nguyễn Xuân Ngọc (2014), Viện Lịch sử Công an (2017), Nguyễn Bình Ban (2017), Đặng Xuân Loan (2017).
- Bài báo khoa học: Nguyễn Trọng Phúc (2005), Nguyễn Văn Nhật (2005), Trần Văn Lang (2010), Nguyễn Đức Lâm (2010), Trần Đại Quang (2015), Tô Lâm (2017).
Phản ánh hoạt động của từng lực lượng chuyên trách (điệp báo, an ninh vũ trang, trinh sát vũ trang), lịch sử an ninh các liên khu, đào tạo cán bộ an ninh, và công tác bảo vệ lãnh đạo Trung ương Cục.
Tài liệu nghiên cứu của nước ngoài - Neil Sheehan (1971, Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ).
- Frank Snepp (1985).
- William C. Westmoreland.
- Robert S. McNamara.
- Ralph W. McGehee.
- William Colby (2007).
- Nguyễn Phú Đức (2009).
Phân tích chính sách, âm mưu tình báo, bình định, hoạt động của cơ quan an ninh, mật vụ Mỹ và chính quyền Sài Gòn cùng nguyên nhân thất bại tại miền Nam.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Mặc dù các công trình trước đây đã đề cập tới từng sự kiện, địa bàn hoặc chuyên đề nghiệp vụ riêng lẻ, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu độc lập, toàn diện về Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam với tư cách là cơ quan tham mưu chiến lược và chỉ đạo nghiệp vụ thống nhất trên toàn chiến trường miền Nam giai đoạn 1960-1975. Luận án đi sâu luận giải vị trí "song trùng lãnh đạo" (chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục miền Nam và Đảng đoàn Bộ Công an), đánh giá cơ cấu tổ chức qua từng thời kỳ và đúc kết hệ thống bài học lịch sử.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khái niệm

Luận án vận dụng cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng: Xem xét Ban An ninh Trung ương Cục trong mối quan hệ hữu cơ với Trung ương Cục miền Nam, Bộ Công an, hệ thống Đảng bộ các cấp và toàn bộ diễn tiến phong trào cách mạng.
  • Phương pháp luận duy vật lịch sử: Đặt tổ chức và hoạt động của Ban An ninh Trung ương Cục vào bối cảnh không gian, thời gian cụ thể của từng giai đoạn kháng chiến chống Mỹ (1960-1965, 1965-1972, 1972-1975).
  • Đường lối, quan điểm của Đảng: Dựa trên các nghị quyết của Đảng về đấu tranh chống phản cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang chuyên trách và chiến tranh nhân dân bảo vệ an ninh trật tự.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả kết hợp phương pháp chuyên ngành lịch sử với các phương pháp liên ngành:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình ra đời, phát triển về tổ chức bộ máy và hoạt động chiến đấu của Ban An ninh Trung ương Cục theo trật tự thời gian và bối cảnh cụ thể.
  • Phương pháp lôgíc: Phân tích, khái quát bản chất sự kiện, rút ra các quy luật, đánh giá ưu khuyết điểm và tổng kết các bài học kinh nghiệm.
  • Các phương pháp bổ trợ: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp tổng kết thực tiễn, phương pháp nghiên cứu điển hình, phương pháp so sánh (đối chiếu giữa các thời kỳ 1960-1965 và 1965-1975), phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp thống kê tư liệu, và phương pháp chuyên gia (lấy ý kiến các nhân chứng lịch sử và nhà nghiên cứu công an).

Nguồn tư liệu sử dụng

  • Các văn kiện, tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Trần Văn Giàu.
  • Hệ thống Văn kiện Đảng toàn tập từ tập 15 (1954) đến tập 36 (1975); 02 tập Văn kiện Đảng về chống Mỹ, cứu nước (Tập I: 1954-1965, Tập II: 1966-1975).
  • Hệ thống Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946-1975 từ tập 7 (1957-1960) đến tập 18 (1974-1975).
  • Các chỉ thị, nghị quyết, thông tư, báo cáo tổng kết chuyên môn của Bộ Công an, Ban An ninh Trung ương Cục và An ninh các Khu, Tỉnh miền Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này điểm luận chi tiết các nhóm công trình học thuật trong nước, quốc tế và các tài liệu chuyên ngành Công an nhân dân liên quan đến chiến tranh Việt Nam, phong trào chống bình định ấp chiến lược, hoạt động của các mạng lưới điệp báo, an ninh vũ trang và công tác bảo vệ cán bộ lãnh đạo. Tác giả chỉ ra những khía cạnh đã được làm sáng tỏ và xác định 3 nội dung trọng tâm cần tập trung giải quyết: phân tích tính tất yếu lịch sử của sự ra đời BANTƯC; làm rõ vai trò tham mưu và chỉ đạo thực tiễn của BANTƯC; đúc kết các bài học kinh nghiệm cho công tác bảo vệ an ninh quốc gia hiện nay.

Chương 2: Quá trình hình thành và phát triển của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975

Chương 2 luận giải các tiền đề lịch sử và các giai đoạn phát triển tổ chức bộ máy:

  • Tiền đề thành lập: Sau Hiệp định Genève năm 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm thi hành chính sách đàn áp, ban bố Luật 10-59. Tháng 10-1954, Xứ ủy Nam Bộ thành lập Ban Địch tình Xứ ủy và Ban Bảo vệ Xứ ủy. Đại đội bảo vệ vũ trang đầu tiên C80 thành lập ngày 18-10-1954 tại Tây Ninh với 120 cán bộ, tiền thân của Đại đội C180 (tháng 3-1960) và Đoàn 180 sau này. Ở Liên khu V, Đơn vị 32 được thành lập ngày 5-9-1954 (mật hiệu B40 năm 1959).
  • Thành lập Ban Bảo vệ an ninh Xứ ủy: Tháng 7-1960, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Nguyễn Văn Linh ban hành Chỉ thị thành lập Ban Bảo vệ an ninh Xứ ủy (phiên hiệu C93B) do đồng chí Phạm Thái Bường (Ba Bình) làm Trưởng ban, Cao Đăng Chiếm (Sáu Hoàng) làm Phó Trưởng ban, Huỳnh Việt Thắng (Tư Thắng) làm Ủy viên Ban.
  • Tổ chức bộ máy giai đoạn 1960-1965: Tháng 1-1961, Trung ương Cục miền Nam được thành lập. Tháng 10-1961, tại Đồi 300 (Chiến khu D), Ban An ninh Trung ương Cục được thành lập trên cơ sở sáp nhập Ban Bảo vệ an ninh Xứ ủy và Ban Địch tình Xứ ủy. Tháng 8-1962, Ban Thường vụ Trung ương Cục chỉ định lãnh đạo BANTƯC gồm: Phan Văn Đáng (Trưởng ban), Cao Đăng Chiếm (Phó Trưởng ban), các Ủy viên: Huỳnh Việt Thắng, Lê Văn Còn, Huỳnh Anh, Thái Doãn Mẫn.
Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam (1962)
  • Sự chi viện từ Bộ Công an: Sau Điện số 235/NB ngày 9-10-1961 của BANTƯC, tháng 2-1962 Bộ Công an điều động 271 cán bộ chi viện; tháng 4-1962 cử đoàn cán bộ do đồng chí Huỳnh Anh dẫn đầu mang theo trang thiết bị điện đài và tài liệu nghiệp vụ vào miền Nam.
  • Hệ thống an ninh các cấp: Các ban an ninh khu lần lượt được thành lập: An ninh T4 (Sài Gòn - Gia Định, 19-3-1961), An ninh T1 (Đông Nam Bộ, giữa 1961), An ninh T3 / Khu IX (Tây Nam Bộ, 1-1962), An ninh T2 / Khu VIII (Trung Nam Bộ, quý I-1962), An ninh Khu X (quý I-1962), An ninh Khu VI (17-5-1962), An ninh Khu V (đầu 1962). Từ ngày 16-1-1963 đến 21-3-1963, Hội nghị An ninh toàn miền lần thứ nhất tại căn cứ Dương Minh Châu quy tụ 67 đại biểu, chính thức thống nhất tên gọi hệ thống là "Ban An ninh".
  • Giai đoạn 1965-1975: Xây dựng, kiện toàn lực lượng thích ứng với các giai đoạn "Chiến tranh cục bộ" và "Việt Nam hóa chiến tranh". Đến chiến dịch mùa Xuân 1975, BANTƯC đã huy động gần 13.000 cán bộ, chiến sĩ tham gia tiếp quản và giải phóng các đô thị.

Chương 3: Ban An ninh Trung ương Cục tham mưu cho Trung ương Cục xây dựng và ban hành các chỉ thị, nghị quyết về công tác an ninh ở miền Nam (1960-1975)

Chương 3 trình bày vai trò cơ quan tham mưu chiến lược của BANTƯC:

  • Tham mưu đường lối, chính sách: Đề xuất các chủ trương, biện pháp phân hóa, cô lập đối tượng phản cách mạng; chính sách khoan hồng, trừng trị và đối sách với các cơ quan tình báo, cảnh sát đặc biệt của đối phương.
  • Tham mưu xây dựng lực lượng: Hoạch định phương án tổ chức lực lượng an ninh 3 thứ quân, phân định chức năng giữa an ninh chính trị, phản gián và an ninh vũ trang.
  • Tham mưu phát động phong trào quần chúng: Chỉ đạo thực hiện các phong trào "Bảo mật phòng gian", "Ngũ gia liên bảo", xây dựng xã ấp tự quản vùng giải phóng.

Chương 4: Ban An ninh Trung ương Cục trực tiếp chỉ đạo và tổ chức công tác an ninh miền Nam (1960-1975)

Chương 4 phân tích các mặt công tác thực tiễn trên cả ba vùng chiến lược (đô thị, nông thôn đồng bằng, căn cứ rừng núi):

  • Công tác điệp báo và an ninh đô thị: Cài cắm cán bộ bí mật vào các cơ quan đầu não của đối phương (tiêu biểu như Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ), thu thập tin tức chiến lược.
  • Công tác trinh sát vũ trang diệt ác, trừ gian: Đánh trúng các cơ quan cảnh sát, bình định, chỉ điểm ác ôn ngay trong lòng đô thị và vùng kiểm soát của đối phương.
  • Đấu tranh chống gián điệp, nội gián: Chủ động rà soát, bảo vệ nội bộ cơ quan Đảng, cơ quan Trung ương Cục.
  • An ninh vũ trang bảo vệ căn cứ, lãnh đạo: Lực lượng An ninh vũ trang (Đoàn 180) thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an toàn các ủy viên Trung ương Cục và căn cứ địa kháng chiến.
  • Công tác đào tạo cán bộ: Trường An ninh Trung ương Cục miền Nam (thành lập 10-1963 tại Đội Thơ, Tân Biên, Tây Ninh) tổ chức 70 khóa học với hơn 5.000 học viên là cán bộ an ninh cốt cán.
  • Phối hợp chiến đấu: Phối hợp lực lượng Quân giải phóng đánh trả các cuộc hành quân càn quét quy mô lớn của đối phương vào vùng căn cứ.

Chương 5: Nhận xét và một số bài học kinh nghiệm

Chương 5 phân tích những ưu điểm, hạn chế và đúc kết 4 bài học lịch sử:

  • Ưu điểm: Giữ vững vai trò nòng cốt, bảo vệ tuyệt đối an toàn Trung ương Cục và căn cứ kháng chiến; bóc gỡ nhiều mạng lưới tình báo, nội gián của đối phương.
  • Hạn chế: Ở một số thời điểm cục bộ, việc bố trí lực lượng bám địa bàn còn gặp khó khăn do sự đánh phá khốc liệt của đối phương; một số nơi công tác nắm tình hình cơ sở chưa theo kịp biến động chiến trường.
  • Bốn bài học kinh nghiệm:
    1. Quán triệt và vận dụng sáng tạo quan điểm của Đảng về đấu tranh chống phản cách mạng, bảo vệ an ninh trật tự phù hợp với từng giai đoạn lịch sử.
    2. Coi trọng công tác vận động, tổ chức quần chúng nhân dân tham gia bảo vệ an ninh trật tự trên cả 3 vùng chiến lược.
    3. Coi trọng xây dựng lực lượng An ninh miền Nam toàn diện về chính trị, nghiệp vụ và tổ chức bộ máy.
    4. Coi trọng hàng đầu công tác nắm tình hình, chủ động tấn công đối phương, tích cực bảo vệ mình trong mọi tình huống.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Hệ thống hóa nguồn tư liệu: Luận án tập hợp, phân loại và công bố nhiều nguồn tư liệu lịch sử, hồ sơ lưu trữ về hoạt động của Ban An ninh Trung ương Cục giai đoạn 1960-1975, làm rõ các mốc lịch sử, sự kiện và nhân vật liên quan.
  2. Luận giải tính tất yếu khách quan: Làm rõ quá trình chuyển đổi từ Ban Địch tình Xứ ủy, Ban Bảo vệ an ninh Xứ ủy sang mô hình Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam vào tháng 10-1961.
  3. Phân tích cơ cấu tổ chức qua 2 giai đoạn: Khắc họa sự phát triển của hệ thống tổ chức an ninh từ Trung ương Cục xuống các khu (T1, T2, T3, T4, Khu V, Khu VI, Khu X), tỉnh, huyện, xã trong hai thời kỳ (1960-1965) và (1965-1975).
  4. Khẳng định hai chức năng cốt lõi: Chứng minh rõ nét vai trò vừa là cơ quan tham mưu đắc lực cho Trung ương Cục về chủ trương, chính sách an ninh, vừa là cơ quan chỉ huy trực tiếp toàn diện lực lượng an ninh trên chiến trường miền Nam.
  5. Đúc kết bài học lịch sử: Rút ra các bài học về xây dựng lực lượng, công tác điệp báo, an ninh vũ trang và vận động quần chúng bảo vệ an ninh trật tự, phục vụ thực tiễn bảo vệ an ninh Tổ quốc hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do nguồn tài liệu lưu trữ thời kỳ chiến tranh phân tán tại nhiều cơ quan và địa phương, một số số liệu chi tiết về mạng lưới an ninh cơ sở cấp xã, ấp tại các vùng bị chia cắt chưa thể thống kê đồng đều tuyệt đối.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục khảo sát, khai thác sâu các nguồn tài liệu lưu trữ từ phía chính quyền Sài Gòn và tài liệu giải mật của các cơ quan tình báo Mỹ để làm sâu sắc hơn nữa các cuộc đọ sức nghiệp vụ tình báo, phản gián cụ thể.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu học thuật: Cung cấp nguồn tư liệu xác thực cho các nhà nghiên cứu lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng Việt Nam, lịch sử chiến tranh nhân dân và lịch sử Công an nhân dân Việt Nam.
  • Đối với đào tạo: Làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy các môn học về Lịch sử Công an nhân dân và Khoa học An ninh tại Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân và các trường Công an nhân dân.
  • Đối với thực tiễn nghiệp vụ: Cung cấp cơ sở khoa học để nghiên cứu hoạch định chính sách xây dựng lực lượng Công an nhân dân và công tác nắm tình hình, bảo vệ an ninh nội bộ, an ninh chính trị trong tình hình mới.

Câu hỏi thường gặp

1. Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam được thành lập vào thời điểm nào và tiền thân là tổ chức nào? Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam được thành lập vào tháng 10-1961 tại căn cứ Đồi 300 (Chiến khu D), trên cơ sở hợp nhất và kiện toàn Ban Bảo vệ an ninh Xứ ủy Nam Bộ (thành lập tháng 7-1960) và Ban Địch tình Xứ ủy Nam Bộ (thành lập tháng 10-1954).

2. Ai là Trưởng ban đầu tiên của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam? Tháng 8-1962, Ban Thường vụ Trung ương Cục chỉ định đồng chí Phan Văn Đáng (Hai Văn), Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam, giữ chức Trưởng ban An ninh Trung ương Cục miền Nam.

3. Phạm vi không gian chỉ đạo của Ban An ninh Trung ương Cục có sự thay đổi ra sao trong kháng chiến? Từ tháng 7-1960 đến trước tháng 4-1966, Ban An ninh Trung ương Cục theo dõi, hướng dẫn địa bàn từ nam vĩ tuyến 17 trở vào. Từ tháng 4-1966, An ninh Khu Trị - Thiên - Huế và An ninh Khu V chuyển sang trực thuộc Trung ương Đảng và Đảng đoàn Bộ Công an lãnh đạo trực tiếp; phạm vi chỉ đạo của Ban An ninh Trung ương Cục giới hạn từ Ninh Thuận đến Cà Mau (chiến trường B2).

4. Trường An ninh Trung ương Cục miền Nam đã đào tạo được bao nhiêu cán bộ trong kháng chiến? Được thành lập ngày 9-10-1963 tại Đội Thơ, xã Hòa Hiệp, huyện Tân Biên (Tây Ninh), trong hơn 11 năm hoạt động, Trường An ninh Trung ương Cục miền Nam đã tổ chức được 70 khóa học với trên 5.000 học viên là cán bộ an ninh cốt cán từ cấp khu, tỉnh đến huyện.

5. Lực lượng An ninh miền Nam đã huy động bao nhiêu quân số tham gia Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975? Trong chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Ban An ninh Trung ương Cục đã huy động gần 13.000 cán bộ, chiến sĩ các lực lượng An ninh miền Nam tham gia thực hiện nhiệm vụ giải phóng và tiếp quản địa bàn Sài Gòn - Gia Định.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975" của Lưu Thị Bích Ngọc là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, phản ánh toàn diện quá trình hình thành, phát triển và đóng góp của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam. Công trình đã làm rõ hai chức năng trung tâm của Ban An ninh Trung ương Cục: tham mưu chiến lược về đường lối an ninh và trực tiếp chỉ đạo, tổ chức cuộc đấu tranh chống phản cách mạng trên cả 3 vùng chiến lược. Các kết quả nghiên cứu và bài học kinh nghiệm được đúc kết từ luận án có giá trị khoa học, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu lịch sử và xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam.