Chương 1: Khái quát chung về công đoàn và vai trò của tổ chức công đoàn. Chương 2: Vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG ĐOÀN VÀ VAI TRÕ CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG ĐOÀN. Vị trí của công đoàn. Điều 10 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và người lao động cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, giáo dục cán bộ, công nhân viên chức và người lao động xây dựng và bảo vệ tổ quốc”. Điều 1 Luật Công đoàn ghi nhận: “Công đoàn là tổ chức chính trị-xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và người lao động Việt Nam, tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là thành viên của hệ thống chính trị xã hội Việt Nam, là trường học chủ nghĩa xã hội của người lao động”.
Như vậy, công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị, là trung tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân, lao động. Công đoàn là chỗ dựa vững chắc của Đảng, là sợi dây nối liền Đảng với quần chúng. Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội được hình thành do nhu cầu của đông đảo người lao động. Công đoàn thu hút sự tham gia đông đảo của công nhân viên chức, người lao động không phân biệt giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo.
Công đoàn là một tổ chức chính trị - xã hội có tính chất nghiệp đoàn. Tính chất này biểu hiện ở thành phần tham gia và mục đích tồn tại của công đoàn. Các thành viên công đoàn thuộc về lực lượng lao động, đã hoặc đang làm một công việc nhất định. Do đó, công đoàn có thể coi là tổ chức nghề nghiệp rộng lớn nhất, thu hút sự tham gia đông đảo nhất của mọi tầng lớp lao động trong xã hội.
10 Mặt khác, công đoàn còn là một tổ chức chính trị - xã hội có vị trí quan trọng trong xã hội, có ảnh hưởng to lớn đến đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Công đoàn là tổ chức đại diện cho người lao động, tham gia bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho họ và tham gia quản lý kinh tế xã hội. Công đoàn còn là người tuyên truyền chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đến với quần chúng, người lao động; Có trách nhiệm xây dựng Đảng, bồi dưỡng công nhân ưu tú kết nạp Đảng. Có thể nói, công đoàn là cộng sự đắc lực của nhà nước bởi những hoạt động của công đoàn đã thực sự góp phần xây dựng chính quyền nhà nước, vì mục đích tồn tại của nhà nước, vì lợi ích của giai cấp công nhân.
Sự thừa nhận của xã hội, của Nhà nước trên các phương diện khác nhau đã khẳng định vị trí của công đoàn, đồng thời tạo ra điều kiện pháp lý xã hội cho hoạt động công đoàn để công đoàn thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình. Tính chất của công đoàn. Tính chất của một tổ chức là những đặc điểm riêng có của tổ chức đó để phân biệt với tổ chức khác mà nếu không còn những đặc điểm riêng thì tổ chức đó không còn đúng với bản chất của nó nữa. Công đoàn là tổ chức không mang tính chất đảng phái mà là tổ chức liên minh của giai cấp công nhân và người lao động.
Vì vậy công đoàn là tổ chức chính trị xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và lao động Việt Nam [40] Giai cấp công nhân vừa là nguồn gốc vừa là cơ sở xã hội hình thành, tồn tại phát triển tổ chức công đoàn. Bởi công đoàn ra đời là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân. Hình thức tổ chức của công đoàn là liên hiệp công nhân lao động theo nghề nghiệp (Trade Union) và dựa trên nguyên tắc tự nguyện…Từ những “đặc điểm riêng đó” đã xác định Công đoàn Việt Nam có hai tính chất: tính chất quần chúng và tính chất giai cấp. Trước hết là tính chất giai cấp của công nhân.
Giai cấp công nhân là cơ sở xã hội để hình thành, tồn tại và phát triển của tổ chức công đoàn. Nhấn mạnh tính chất 11 giai cấp của công đoàn có ý nghĩa để hiểu đúng vị trí, vai trò của công đoàn trong xã hội. Công đoàn là thành viên của hệ thống chính trị, hoạt động của công đoàn mang tính chất chính trị và tính chất xã hội. Công đoàn không phải là tổ chức nhà nước, không phải là tổ chức mang tính chất đảng phái.
Tổ chức công đoàn được xây dựng ngày càng lớn mạnh để đảm bảo sự thống nhất hành động của giai cấp công nhân Việt Nam. Đội ngũ cán bộ công đoàn được xây dựng, rèn luyện theo đường lối cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tổ chức của công đoàn theo nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tổ chức của giai cấp công nhân. Công đoàn là hình thức tổ chức quần chúng của công nhân, của người lao động, điểm đó đã xác định tính chất quần chúng của công đoàn.
Công đoàn Việt Nam từ khi ra đời, tồn tại và phát triển đã mang đầy đủ tính chất giai cấp của giai cấp công nhân và tính quần chúng rộng rãi. Tính chất đó được biểu hiện trong tổ chức và hoạt động của công đoàn Việt Nam. Công đoàn kết nạp tất cả công nhân viên chức và người lao động vào tổ chức mình, không phân biệt nghề nghiệp, tín ngưỡng, thành phần kinh tế, dân tộc. Cơ quan lãnh đạo công đoàn Việt Nam do đoàn viên tín nhiệm bầu ra qua các kỳ đại hội, cán bộ công đoàn đều trưởng thành từ phong trào của quần chúng.
Hoạt động của công đoàn là hoạt động của đông đảo quần chúng công nhân, viên chức và người lao động. Nội dung của hoạt động công đoàn đáp ứng yêu cầu, nguyên vọng và vì lợi ích của công nhân, viên chức và người lao động. Hai tính chất của công đoàn có mối quan hệ gắn bó với nhau. Nếu chỉ coi trọng tính chất giai cấp thì về mặt tổ chức sẽ bị bó hẹp, tự thu mình lại và trên thực tế sẽ khó tồn tại đúng với bản chất tổ chức công đoàn.
Ngược lại, nếu chỉ coi trọng tính chất quần chúng thì sẽ dẫn đến xa rời mục tiêu chính trị, biến thành phường hội, sai lệch phương hướng hành động cách mạng và cũng không đúng với bản chất công đoàn cách mạng. Cơ cấu tổ chức của công đoàn Việt nam. 12 Cơ cấu tổ chức là vấn đề cơ bản nhất trong công tác tổ chức. Cơ cấu tổ chức phản ánh sự phân công lao động trong một tổ chức, hoặc là sự phân bổ nhiệm vụ của bộ máy tổ chức cho các cơ sở tổ chức trực thuộc.
Khi nhìn vào cơ cấu bộ máy tổ chức đó có thể thấy được các nhiệm vụ chủ yếu của tổ chức, trên cơ sở đó mà phân biệt tổ chức này với tổ chức khác. Cơ cấu tổ chức còn phản ánh mối quan hệ công tác giữa các bộ phận cấu thành, cơ sở của hệ thống tổ chức. Bảo đảm số nhân sự cần thiết trong các đơn vị cấu thành. Cơ cấu tổ chức phải bảo đảm, tạo điều kiện cho việc luân chuyển và xử lý thông tin giữa các đơn vị trực thuộc.
Theo quy định của pháp luật, tổ chức công đoàn Việt Nam gồm 4 cấp cơ bản sau: - Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; - Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi là liên đoàn lao động tỉnh, thành phố) và công đoàn ngành trung ương; - Công đoàn cấp trên cơ sở; - Công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn. Trong đó, mỗi cấp công đoàn có nhiệm vụ khác nhau. Đối tượng chỉ đạo trực tiếp của Tổng liên đoàn lao động Việt nam là các liên đoàn lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, công đoàn ngành trung ương và cơ quan tổng liên đoàn lao động, các đơn vị trực thuộc. Tổng liên đoàn lao động Việt nam là cơ quan cao nhất quyết định phương hướng, chủ trương, nội dung, chương trình hoạt động của công đoàn nhằm thực hiện nghị quyết đại hội công đoàn toàn quốc và nghị quyết của Đảng cộng sản Việt nam, chỉ đạo công tác tổng kết thực hiện và nghiên cứu lý luận công đoàn.
Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố có đối tượng chỉ đạo trực tiếp là các liên đoàn lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, các công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn đóng trên địa bàn không phân biệt cấp quản lý và thành phần kinh tế. Chỉ đạo trực 13 Quy định tại Điều 45 cho thấy đại diện thương lượng thỏa ước lao động tập thể là Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn lâm thời. Vai trò của công đoàn trong việc thảo luận các vấn đề về quan hệ lao động thể hiện trong việc thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể, phản ánh các nguyện vọng của người lao động tới chủ sử dụng lao động, qua đó tạo cơ sở cho việc thực hiện các cam kết giữa các bên trong quan hệ lao động, tạo điều kiện cho các bên hiểu nhau từ đó hướng tới xây dựng quan hệ lao động hài hòa vì lợi ích của các bên. Thỏa ước lao động tập thể - kết quả của quá trình thương lượng, đàm phán, ký kết giữa công đoàn (Đại diện cho tập thể người lao động ) với đại diện người sử dụng lao động là cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động.
Nội dung của thỏa ước lao động tập thể bao gồm các vấn đề về: Việc làm và bảo đảm việc làm; thời giờ làm việc thời giờ nghỉ ngơi; tiền lương tiền thưởng và phụ cấp lương; định mức lao động; an toàn lao động vệ sinh lao động; bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế và các thỏa thuận khác. Đây là các lĩnh vực mà người lao động và người sử dụng lao động liên quan trực tiếp với nhau, ảnh hưởng rất lớn tới quan hệ lao động.