MỞ ĐẦU I. Dat van dé Năm 1975, Sai Gon được giải phóng, sát nhập thêm tinh Gia Dinh và được đổi tên là thành phố Hỗ Chí Minh (Tp HCM). Tổng diện tích Thành phố lúc này vào khoảng 2. Từ mốc thời gian này cho đến năm 1986, tuy còn nhiều khó khăn do những hậu quả nặng nề của cơ chế bao cấp và kế hoạch hóa tập trung nhưng với sự quyết tâm của toàn Đảng- toản dân, Thành phố từng bước khôi phục và phát triển, mở rộng các quan hệ thị trường với khu vực phía Nam, cả nước và thế giới.
Từ năm 1990 cho đến nay, những chủ trương và biện pháp cải cách mạnh mẽ của Chính phủ đã tạo nên sức bật mới và phát triển trên nhiều mặt. Có thể coi đây là bước ngoặt chuyền từ thời kỳ khó khăn, khủng hoảng sang khởi đầu của giai đoạn phát triển. Tp HCM đã được xác định là đô thị lớn nhất nước (Nghị quyết 20-NQ/TW về phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Thành pho đến năm 2010 ). Kinh té của Thành phố ngày càng phát triển kéo theo không gian đô thị cũng thay đổi, diện tích đất đô thị không ngừng tăng lên.
Từ thập niên 70 của thế kỷ 20 trở đi, khi có định hướng phát triển công nghiệp hóa, Thành phố có xu hướng phát triển về phía Bắc và phía Đông, vượt sông Sài Gòn hướng đến Biên Hòa trên những phan đất có lợi thé về mặt xây dựng va dé dàng mở đường vươn ra biển. Tuy nhiên, dưới tac động của quá trình đô thị hóa, sự phát triển thực té đã vượt xa những dự định ban đầu - nhất là về mặt xây dựng kết cau ha tầng, nên gần đây Thành phố phải gánh chịu rất nhiều hậu quả trong tổ chức và quan lý đô thị, trong cải thiện môi trường và điều kiện sinh sông cho dân cư. Hiện nay, biến đối khí hậu (BĐKH) đang là một van dé mang tính toàn cầu vì phạm vi ảnh hưởng và những tác động trên nhiễu phương diện. Do đặc điểm về địa hình, Thành phố năm ở cửa sông Sai Gòn- Đồng Nai nên chịu ảnh hưởng bởi triều cường thường xuyên và hiện tượng nước biến dâng do biến đổi khí hậu.
Là một trong 10 thành phố chịu ảnh hưởng của nước biển dâng ( Carew-Reid, 2007 và ADB, 2008), đất đai sẽ là một trong những loại tài nguyên chịu tác động chính. GVHD: 1SLâm Đạo Nguyên và TS. Võ Lê Phú HVTH: Nguyên Hoài Thu Hàng triệu cư dân sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng do mat chỗ 6, mat kế sinh nhai hoặc phải di cu (Dasgupta et al. Khi BĐKH xảy ra, tác động sẽ rất nặng né không những trong phạm vi Thành phố mà còn ảnh hưởng đến khu vực Đông Nam bộ và cả nước.
Trước tình hình trên, làm thế nào để đánh giá những thay đổi về đất đai nhanh chóng và hiệu quả? Liệu sự thay đối về đất đai có mối liên hệ với BĐKH toàn câu hay không? Can thiết chuẩn bị những gi cho Tp HCM để ứng phó với BĐKH ? chính là những câu hỏi thôi thúc tác giả đến với dé tài nghiên cứu: “Ung dụng viễn thám va GIS để đánh giá biến động đất đô thị và công nghiệp tại thành pho Hồ Chi Minh trong bối cảnh biến đổi khí hậu ”. Tổng quan về tinh hình nghiên cứu trong va ngoài nước * Các nghiên cứu ở nước ngoài: e Sứ dụng vệ tinh viễn thám cho việc giám sát thay đổi sử dụng dat Viễn thám va GIS đã được ứng dụng dé xem xét biến động đất do đô thị hóa ở các nước trên thế giới, dẫn chứng là một trường hợp nghiên cứu ở quận Madison, bang Alabama (Mỹ). Trong nghiên cứu này, Charles (2003) đã sử dụng 3 ảnh vệ tinh Landsat TM va ETM vào các năm 1984, 1990, 2000 dé phân loại các đặc điểm bề mặt đất thành 13 lớp: đất thương mại, đất ở, đất rừng, đất trồng trọt. Thời gian nghiên cứu tương đối dài và việc phân chia thành 13 lớp chứng tỏ tác giả đã thu thập được nhiêu dữ liệu va am hiéu dia bàn nghiên cứu.
Đề đánh giá sự biến động sử dụng đất trong 16 năm (1984-2000), 13 lớp này được đưa vào trong hai lớp chính la “Developed” va “Undeveloped”. Việc làm này đã giúp cho tác giả dé dang nhận ra sự bién động khi gộp những lớp nhỏ vào thành các lớp lớn. Tuy nhiên, việc này lại làm giảm bớt lượng thông tin thể hiện sự biến động của từng loại đất trên bản dé. Ban đỗ biến động được tác giả thể hiện với 3 lớp: “Developed Land with No Change”, “Undeveloped Land with No Change” va “Land that change from Undeveloped to Developed” qua 2 thoi doan 1984-1990 va 1990-2000 cho thấy sự chuyển đổi va phân bố giữa các loại hình sử dung đất.
Số liệu này sau đó được tích hợp với GIS để tính diện tích đất biến động. GVHD: 1SLâm Đạo Nguyên và TS. Võ Lê Phú HVTH: Nguyên Hoài Thu Từ kết quả biến động thể hiện qua các bản đồ và nghiên cứu số liệu thống kê giúp tác giả kết luận về nguyên nhân của biến động đất. Kết quả của nghiên cứu đã góp phần quan trọng giúp cho cơ quan quản lý tìm ra cách tốt nhất để bảo vệ đất đai và không gian mở do việc phát triển trong tương lai.
e Phân tích biến động sử dụng đất tại thành phố Kathmandu, Nepal sử dụng viễn thám và GIS Nepal, một quốc gia ở vùng Nam Á có đặc điểm sử dụng đất khác với quốc gia đã phát triển là Mỹ ở đề tài nghiên cứu trên. Tuy nhiên, nó cũng đã và đang trải qua quá trình đô thị hóa. Đối với một quốc gia đang phát triển thì nông nghiệp vẫn là nền kinh tế chủ đạo, vùng trung tâm thành phố vẫn còn dành hết cho nông nghiệp. Kịch bản hiện tại của những thành phố lớn tại Nepal cho thấy sự thay đổi nhanh chóng kiểu sử dụng đất.
Đó chính là lý do mà tác giả Rimal, B (2009) đã thực hiện nghiên cứu: “Phdn tích biến động sử dung dat ở hiện tại và quá khứ ở thành pho Kathmandu, Nepal”. Cũng giống như nghiên cứu trên, tac giả đã sử dung các anh vệ tinh Landsat để xác định sự thay đổi về mặt không gian của việc sử dụng đất đô thị ở Kathmandu. Hệ thống phân loại ảnh giám sát được áp dụng cho ảnh vệ tỉnh vào các năm 1976 (Landsat MSS), 1989 (Landsat TM), 2001 và 2009 (Landsat ETM). Việc phân loại được thực hiện cho 5 loại hình sử dung đất tại Kathmandu, bao gồm: đồ thị, không gian mở, mặt nước, đất canh tác, thảm thực vật tự nhiên; đơn giản và tiện ích hơn so với phân thành 13 lớp như nghiên cứu của Charles Laymon.
Vì như vậy tác giả sẽ đánh giá được sự biến động của từng lớp sử dụng đất qua từng thời đoạn theo ảnh vệ tinh. Còn nghiên cứu của Charles không chỉ tiết bang, chủ yếu là xem xét một cách tổng thé diện tích chuyến từ lớp “Undeveloped” sang lớp “Developed”. Kết quả cho thay khu vực đô thi đã gia tăng gấp 4 lần trong 32 năm từ 1976 đến 2009 làm cho diện tích đất của các loại hình sử dụng khác phải giảm di. So sánh với mật độ dân số qua từng thời đoạn nghiên cứu.
tác giả đã kết luận rằng: Sử dụng đất ở Kamandu biến động nhanh từ khi quá trình đô thị hoá. Dưới áp lực gia tăng GVHD: 1SLâm Đạo Nguyên và TS. Võ Lê Phú HVTH: Nguyên Hoài Thu dân số, hầu hết đất nông nghiệp va không gian mở đã được chuyền đổi thành đất đô thị. e Sử dụng ảnh viễn thám phân tích sử dụng dat và dat dai của tiểu vương quốc Ilorin, Nigiêria từ năm 1986 đến năm 2006 Nigiéria là một nước đang phat triển, ở khu vực đô thị nhiều cánh đồng, đất ngập nước, thảo nguyên đã được chuyển đổi thành khu dân cư.
Thực trạng dân số đang tăng nhanh và những tác động của BDKH trong thời gian gần đây đã làm đất đai thay đôi một cách mạnh mẽ. Nhận thức được đất đai là nền tảng của mọi hoạt động của con người, có tầm quan trọng trong quản lý chính trị quốc gia, cần phải được theo dõi thường xuyên, tuy nhiên, chính quyên lại không có được sự hiểu biết rõ ràng về những sự thay đổi nay dé phân tích và đánh giá tác động. Dựa trên cơ sở này, nhóm tac giả: J. Asonibare (2012) đã thực hiện đề tài nghiên cứu “Sử dung ảnh viễn thám phân tích sử dung dat và dat dai của tiểu vương quốc Ilorin, Nigiêria từ năm 1986 đến năm 2006”.
Kết quả nghiên cứu sẽ làm cho công tác lập kế hoạch và quản lý khu vực nghiên cứu một cách hiệu quả. Đề tài này sử dụng 3 ảnh Landsat ở 3 thời điểm: năm 1986, 2000 và 2006 để xem xét những thay đổi trong sử dung đất và mau đất trên nên của bản đồ hành chính va bản đồ hiện trạng sử dụng đất. Đầu tiên tiễn hành nâng cao chất lượng ảnh với việc tăng cường độ tương phản và lọc không gian. Công tác này nhằm mục đích làm cho nhiều thông tin được hién thị rõ rang hon, thuận lợi cho việc giải đoán bằng mắt và băng máy tính.
Phương pháp phân loại có giám sát được lựa chọn dựa trên những hiểu biết về khu vực nghiên cứu trong 20 năm. Các cuộc điều tra khảo sát thực địa và dữ liệu từ các nghiên cứu trước đây là nguôn tư liệu bô trợ cho đê tài. Các loại đất được phân thành 5 loại: đất xây dựng, mặt đường, thực vật, mặt nước và đất trồng. Độ chính xác của phân loại được thể hiện qua ma trận sai số tir anh ở các thời điểm tham chiếu.
Dữ liệu sau đó được chuyển sang môi trường GIS dé xác định diện tích đất bién động. Dé dự đoán sự thay đổi các kiểu sử dụng đất vào năm 2020, nhóm tác giả đã sử dụng chuỗi Markov. Thuật toán nay được ứng dụng để xác định khả năng biến đổi các kiểu sử dụng đất dựa trên sự tiễn triển của chúng và các nhân tô ảnh hưởng đền sự biên đôi. GVHD: 1SLâm Đạo Nguyên và TS.
Võ Lê Phú HVTH: Nguyên Hoài Thu * Các nghiên cứu trong nước: e Ứng dụng viễn thám theo dõi biến động đất đô thi của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An Nguyễn Ngọc Phi (2009) đã nghiên cứu biến động đất đô thị của thành phố Vinh, Nghệ An thông qua đề tài “Ứng dụng viễn thám theo dõi biến động đất đô thị của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An”.