CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC 1. Khái quát về quan điểm sư phạm tương tác. Công nghệ dạy học tương tác (CNDHTT) là quá trình dạy học tập trung trước hết vào người học, xem người học là người “thợ chính” của quá trình dạy học. Mọi can thiệp sư phạm đều xuất phát từ nhu cầu, tiềm năng và trách nhiệm của người học đối với quá trình học tập của bản thân.
Người dạy sử dụng CNDHTT là người hướng dẫn người học cách học, tạo ra những điều kiện thuận lợi để người học thực hiện các phương pháp học của mình. Môi trường là yếu tố ảnh hưởng đến cả người dạy và người học, tuy nhiên ở một mức độ nào đó thì người dạy và người học cũng có những tác động ngược trở lại đ ối với môi trường. Để làm rõ hơn về quan điểm sư phạm tương tác chúng ta cần làm rõ một số vấn đề sau: 1. Tương tác Thuật ngữ tương tác trong tiếng Anh là “Interaction”, được ghép bởi hai từ đơn: Inter và Action.
Trong đó “Inter” mang nghĩa là: Sự kết nối cùng nhau, nối liền với nhau, nối nhau. Còn “Action” có nghĩa là: Sự tiến hành làm điều gì, hoạt động, hành động, là ảnh hưởng, tác động. Mặt khác, “Interaction” còn có nghĩa: Sự hợp tác, ảnh hưởng qua lại, sự tác động qua lại trực tiếp giữa các yếu tố. Theo từ điển mở Oline đã định nghĩa tương tác (Interaction): Là hành động tương hỗ giữa các đối tượng hoặc hành động dựa trên các đối tượng khác, một cuộc trao đổi giữ người này với người khác [2].
Còn theo từ điển tiếng Việt, tương tác được định nghĩa là tác động qua lại. Như vậy, tương tác là quá trình tác động qua lại giữa các yếu tố với nhau nhằm tạo ra sự trao đổi giữa các yếu tố và biến đổi của mỗi yếu tố đó. Vì thế, tương tác trong dạy học là quá trình tác động của giáo viên, sinh viên, môi trường trong đó có phương tiện thể hiện qua hoạt động dạy và học. Dạy học tương tác Quá trình dạy học (QTDH) là một quá trình xã hội.
Về hình thức, đó là quá trình hoạt động tương tác giữa người dạy và người học. Về bản chất, QTDH là quá trình học tập (nhận thức và thực hành) độc đáo của người học được tiến hành dưới sự tổ chức, hướng dẫn của người dạy nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học. Tương tác giữa người dạy và người học tồn tại tất yếu trong quá trình dạy học. Không có tương tác sẽ không tạo nên quá trình dạy học.
Tương tác tạo nên tình huống và tình huống lại nảy sinh tương tác. Dạy học sẽ mất định hướng và không đạt kết quả nếu để các tương tác trong quá trình dạy học diễn ra một cách tự nhiêu. Dạy học tương tác là quá trình dạy học dựa trên sự tác động qua lại giữa ba tác nhân cơ bản: người dạy, người học, môi trường trong đó có phương tiện và sự tương tác giữa các phần tử nội bộ trong ba tác nhân đó. Lý luận dạy học tương tác Lý luận dạy học tương tác (LLDHTT) là lý luận dạy học theo quan điểm (hay tiếp cận) sư phạm tương tác (SPTT), coi quá trình dạy học là quá trình tương tác đặc thù giữa ba tác nhân – Người dạy, người học, môi trường trong đó, người học là trung tâm, là người thợ chính người dạy là người hướng dẫn và giúp đỡ.
Luận điểm SPTT được đề xuất và trình bày trong tác phẩm [4] đưa ra những khái niệm và nguyên lý cơ bản của LLDHTT là : - Bộ ba tác nhân: Người học – Người dạy – Môi trường. - Bộ ba thao tác: Học – Giúp đỡ - Tác động. - Bộ ba tương tác: Mỗi tác nhân trong bộ ba trên đây khi thực hiện thao tác của mình đều thể hiện một ứng xử, dẫn đến đáp ứng của hai tác nhân kia. Chẳng hạn, người học qua phương pháp học của mình ắt có những phản hồi tự nhiên bằng lời (câu hỏi, nhận xét,…) hoặc không (biểu cảm,…), dẫn đến những điều chỉnh tương ứng về phương pháp dạy hoặc thông tin bổ sung,…từ phía người dạy.
Những tương tác này không có gì lạ với lý luận và công nghệ dạy học truyền thống. Điều khác biệt là ở : 14 Định hướng của tương tác. Lúc, chỗ và độ thể hiện của tương tác Chẳng hạn, thường ít có tương tác trong giờ lên lớp lý thuyết – kiểu thày độc diễn thường thấy ở nhiều giảng đường đại học hiện nay; tuy có tương tác trong giờ thực hành (bài tập, thí nghiệm,…), nhưng chỉ trong khuôn khổ của phương pháp dạy học cũ – người dạy là trung tâm; gần đây, với phương pháp dạy học tích cực, người học là trung tâm đã ngày càng trở thành định hướng chính, nhưng cũng phải đến nay, nhờ sự phát triển của Công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT), với các phần mềm dạy học tương tác không khác gì các trò chơi tương tác, tương tác trong giờ lên lớp lý thuyết mới ngày càng khả thi và hiệu quả, và cùng với học chế tín chỉ [15], người học có thể tự quyết định lộ trình học tập thích hợp, họ thực sự là trung tâm của quá trình dạy học. Ảnh hưởng của môi trường tới việc học và việc dạy đã hiển nhiên.
Người học và người dạy cùng nhau phối hợp tổ chức và cải thiện môi trường làm việc, cũng là điều dễ hiểu, nhất là trong thời đại CNTT&TT hiện nay, và cuối cùng, tất cả đều vì người học. Công nghệ dạy học tương tác. Công nghệ dạy học Công nghệ là một hệ thống phương tiện, phương pháp và kỹ năng nhằm vận dụng quy luật khách quan, tác động vào một đối tượng nào đó, đạt một thành quả xác định cho con người [8],[9]. Với định nghĩa trên, dạy học cũng là một công nghệ : Công nghệ dạy học là một hệ thống phương tiện, phương pháp và kỹ năng, nhằm vận dụng quy luật khách quan (tâm lý học, giáo dục học,…), tác động vào người học, hình thành một nhân cách (tài, đức) xác định.
Từ định nghĩa trên có thể thấy rõ dạy học được xem là một công nghệ, trước hết và chủ yếu là vì bản chất của nó tương ứng với nội hàm của khái niệm công nghệ, chứ không phải vì hiện tượng những quy trình công nghệ hay những ứng dụng của công nghệ thông tin hoặc phương tiện kỹ thuật khác, v.v… trong dạy học [8]. Với 15 những phương tiện, phương pháp và kỹ năng truyền thống, dạy học vẫn là một công nghệ: công nghệ dạy học truyền thống, bên cạnh công nghệ dạy học hiện đại, là công nghệ dạy học với phương tiện, phương pháp và kỹ năng trong thời đại ngày nay – thời đại CNTT&TT. Từ định nghĩa trên đây về công nghệ, đã hình thành một quan điểm mới khi xem xét một đối tượng nào đó: quan điểm công nghệ (và từ đó là tiếp cận công nghệ [8]). Theo quan điểm này ta quan tâm hai thuộc tính cơ bản của đối tượng được xét, đó là tính khả thi (làm được) và tính hiệu quả (làm tốt) : khả thi thông qua phương tiện và phương pháp, hiệu quả còn thông qua kỹ năng (trong đó có bí quyết) của người tạo ra cũng như sử dụng phương pháp và phương tiện.
Làm được và làm tốt là hai mức độ đôi khi cách nhau rất xa. Ngày nay, tiếp cận công nghệ là một trong những cách tiếp cận quan trọng nhất khi nghiên cứu và giải quyết những vấn đề có liên quan tới lựa chọn phương án, đánh giá chất lượng, xác định tiêu chí, v.v… Theo tiếp cận công nghệ: Quá trình dạy học, từ xác định đầu vào (đối tượng tác động), mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, công nghệ dạy học,… đến đánh giá kết quả dạy học, đầu ra (thành quả), luôn luôn dựa vào các tiêu chí khả thi (dạy được, học được) và hiệu quả (dạy tốt, học tốt) để thiết kế, thi công và kiểm định. Những lí luận chung về công nghệ như thực thi công nghệ (với những khái niệm cơ bản như nguyên công, quy trình, …), quản lý công nghệ và chuyển giao công nghệ (như vòng đời công nghệ, quy luật cung cầu,…), đều có những vận dụng thích hợp cho công nghệ dạy học. Giải pháp giáo dục theo mô hình thầy thiết kế – trò thi công là một ví dụ.
Nhiều khái niệm quan trọng của lý luận dạy học được khái quát hóa hoặc chuẩn hóa, như : + Chuẩn mực sư phạm – là những tiêu chí đảm bảo quá trình dạy học khả thi (dạy được, học được) và hiệu quả (dạy tốt, học tốt), + Đánh giá sư phạm qua phương pháp chuyên gia và phương pháp thực nghiệm 16 sư phạm – khác nhau ở chỗ : phương pháp thứ nhất chỉ đánh giá được tính khả thi, phương pháp thứ hai còn đánh giá được tính hiệu quả. Công nghệ dạy học tương tác. Công nghệ dạy học tương tác (CNDHTT) bao gồm tất cả những nội dung và hình thức vốn có về phương tiện, phương pháp và kỹ năng tương tác trong công nghệ dạy học truyền thống (thực hành, vấn đáp, hoạt động nhóm,…) Sự phát triển nhanh đến chóng mặt của CNTT&TT nói chung và giao diện người – máy (hay tương tác người – máy) nói riêng, đã nâng bộ ba tương tác trong LLDHTT lên một tầm cao mới, đó là điều chưa được đề cập trong [4], nhưng cũng đã được các tác giả tiên liệu trong đoạn cuối của phần Kết luận. Nhiều phần mềm với giao diện kéo – thả và tương tác tham số, nhất là tương tác ảo, đã cho phép người học và người dạy có thể vấn đáp và thao tác tức thì, ngay trên bảng, những nội dung dạy học mà xưa nay chưa bao giờ có thể thực hiện trong giờ lên lớp lý thuyết, ví dụ những thao tác toán học dài dòng, những đồ họa động phức tạp, những thí nghiệm và thực hành đòi hỏi nhiều thời gian tạo dựng và vận hành,… CNDHTT là CNDH theo LLDHTT (hay quan điểm SPTT) trong đó tương tác người – máy là liên kết phổ biến giữa bộ ba người học – người dạy – môi trường.
• Tương tác người – máy Có nhiều dạng tương tác được sử dụng như các tương tác dòng lệnh, bảng chọn (thực đơn), ngôn ngữ tự nhiên, hỏi đáp và truy vấn, điền mẫu, WIMP (Windows, Icons, Menus, Pointers). Giao diện WIMP, điều khiển trực tiếp kiểu kéo – thả và thay đổi tham số qua bảng chọn hoặc con trượt (slider) là hình thức tương tác thường gặp ở các phần mềm có tính tương tác cao.