CHƯƠNG I LÍ LUẬN TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP ðẦU TƯ CỔ PHIẾU CỦA WARREN BUFFETT 1.1 Các lí luận nền tảng của WB Ban ñầu, WB theo học tại ðại học Nebraska, trong thời gian này ông ñọc cuốn The Intelligent Investor của giáo sư Benjamin Graham, ông rất tâm ñắc với những ý tưởng trong cuốn sách nên nộp ñơn theo học vào ðại học Columbia ñể ñược trao ñổi trực tiếp với giáo sư Graham. Sau khi tốt nghiệp tại ðại học Columbia ông tham gia doanh nghiệp của giáo sư Graham. Trong suốt hai năm làm việc tại ñây ông có cơ hội quan sát và thực hành cách tiếp cận ñầu tư của thầy mình. Do ñó, những lí luận và quan ñiểm ñầu tư của giáo sư Benjamin Graham có ảnh hưởng rất lớn ñến việc hình thành phương pháp ñầu tư của WB.
Tuy nhiên trong quá trình gia ñầu tư trực tiếp trên TTCK, từ những kinh nghiệm thực tiễn, cộng với việc tìm hiểu những lí thuyết và phương pháp ñầu tư mới, WB dần hình thành nên phương pháp ñầu tư của riêng mình. Cách tiếp cận của WB trong ñầu tư là riêng biệt, dựa trên nền tảng lí thuyết và phương pháp ñầu tư của bốn người: Benjamin Graham, Philip Fisher, John Burr Williams, và Charles Munger. WB ñã từng nói vào năm 1969 rằng,: “Phương pháp ñầu tư của tôi 15% là Fisher và 85% là Benjamin Graham”. Dưới ñây, chúng ta sẽ tìm hiểu thêm những lí thuyết và phương pháp ñầu tư của bốn người trên.1 Lí luận và những quan ñiểm ñầu tư Benjamin Graham Graham ñược xem là người sáng lập nghành phân tích tài chính, vì trước ông không có nghành phân tích tài chính chuyên nghiệp và sau ông người ta bắt ñầu gọi nó LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 như thế.
Grraham có hai tác phẩm nổi tiếng là Security Analysis ñồng tác giả với David Dodd xuất bản lần ñầu năm 1934, và The Intelligent Investor xuất bản lần ñầu năm 1949. Những quan ñiểm nổi tiếng của Benjamin Graham về ñầu tư, ñược nhiều người biết ñến hiện nay ñó là: Thuật ngữ “Biên ñộ an toàn” (“Margin of safety”) với thuật ngữ này ông ñã thống nhất cách tiếp cận ñầu tư chung cho tất cả các chứng khoán bao gồm cả cổ phiếu và trái phiếu. Về căn bản “Biên ñộ an toàn” tồn tại khi một chứng khoán ñược bán dưới giá trị thực của nó dù với bất kỳ lí do gì. ðể thực hiện chiến lược này, nhà ñầu tư cần nắm rõ kỹ thuật ñể xác ñịnh giá trị nội tại (intrinsic value) của doanh nghiệp, từ ñó nhận diện những cổ phiếu ñang giao dịch dưới giá trị.
Graham cũng ñưa ra hai nguyên tắc trong ñầu tư. Nguyên tắc thứ nhất là ñừng ñể lỗ (“don’t lose”), nguyên tắc thứ hai là ñừng quên nguyên tắc thứ nhất. Triết lý ñừng ñể lỗ ñã ñưa Graham ñến hai cách tiếp cận trong việc chọn lựa cổ phiếu gắn liền với khái niệm biên ñộ an toàn. ðầu tiên chỉ mua cổ phiếu có giá thấp hơn hai phần ba (2/3) giá trị tài sản thuần của doanh nghiệp, thứ hai tập trung vào những cổ phiếu có tỷ số P/E thấp.
Sau này, các nhà ñầu tư ñã tìm kiếm những cách ñơn giản ñể xác ñịnh giá trị nội tại của doanh nghiệp. Theo ñó kỹ thuật sử dụng tỷ số P/E thấp của Graham là một phương pháp ñược ưa thích. Graham cũng ñưa ra hai giả ñịnh. Thứ nhất, ông tin rằng thị trường thường xuyên ñịnh giá sai cổ phiếu do bị dẫn dắt bởi hai cảm xúc là lòng tham và nỗi sợ hãi, do ñó thị trường thường xuyên ñịnh giá cao hoặc thấp hơn so vời giá trị thực của doanh nghiệp.
Thứ hai, ông cho rằng trong dài hạn thị trường có khuynh hướng ñưa giá cổ phiếu quay về giá trị thực. ông tin rằng một nhà ñầu tư có thể tìm kiếm lợi nhuận từ sự thiếu hiệu quả của thị trường 1.2 Phương pháp ñầu tư của Philip Fisher LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Philip Fisher bắt ñầu sự nghiệp như là một nhà tư vấn ñầu tư, Sau khi tốt nghiệp Stanford’s Graduate School of Business Administration, Fisher bắt ñầu làm công việc phân tích tại Anglo London & Paris National Bank tại San Francisco, và trở thành trưởng bộ phận thống kê của ngân hàng này. Trong thời gian này, ông ñã chứng kiến sự sụp ñổ của TTCK vào năm 1929. Sau một thời gian ngắn làm việc tại một doanh nghiệp môi giới ñịa phương, Fisher quyết ñịnh thành lập doanh nghiệp tư vấn ñầu tư riêng vào ngày 01/03/1931.
Trong thời gian theo học tại Stanford, một trong những yêu cầu của lớp học là ông phải ñi cùng với giáo sư của mình ñến thăm các doanh nghiệp tại khu vực San Francisco. Những người quản lý tại các doanh nghiệp sẽ nói về các hoạt ñộng của họ và vị giáo sư sẽ giúp họ giải quyết vấn ñề. Khi quay trở về Stanford, vị giáo sư và các học viên sẽ tóm tắt những gì họ quan sát ñược từ các doanh nghiệp và các nhà quản lí mà họ ghé thăm. Từ những kinh nghiệm này, Fisher tin rằng mọi người có thể tạo ra lợi nhuận vượt trội bằng cách: Thứ nhất, ñầu tư vào những doanh nghiệp có tiềm năng trên trung bình.
Thứ nhai, Tập trung vào những doanh nghiệp có khả năng quản lý cao nhất. Tách riêng những doanh nghiệp này, Fisher ñã phát triển một hệ thống quan ñiểm ñể nhận diện một doanh nghiệp chất lượng bởi những ñặc ñiểm kinh doanh và quản lý của nó. Ngoài ra, khi tìm hiểu về một doanh nghiệp mà ông quan tâm. Fisher cố gắng tìm hiểu những thông tin mật của doanh nghiệp này.
Ông tin rằng những thông tin này là ñầu mối quan trọng, ñể nhận diện những khoản ñầu tư triển vọng. ðể tìm hiểu những thông tin mật này, ông sẽ tiến hành phỏng vấn càng nhiều nguồn càng tốt, ông gặp gỡ những nhân viên và những người tư vấn từng làm việc tại doanh nghiệp, ông tiếp xúc những nhà khoa học nghiên cứu tại các trường ñại học, thành viên chính quyền, và những người ñiều hành các hiệp hội thương mại. Ông cũng tiến hành phỏng vấn những ñối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp. Ông khám phá ra LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 rằng những người ñiều hành doanh nghiệp thường e ngại khi ñề cập quá nhiều ñến doanh nghiệp của mình, nhưng chẳng bao giờ thiếu ý kiến về các ñối thủ cạnh tranh.
Nhiều nhà ñầu tư sẽ thắc mắc về thời gian và công sức Fisher cần ñể hiểu một doanh nghiệp. Phát triển mạng lưới tin mật và sắp xếp các cuộc phỏng vấn mất rất nhiều thời gian, ñồng thời bắt ñầu một quá trình tìm kiếm thông tin mật ñối với những doanh nghiệp mình quan tâm cũng mât nhiều công sức. Fisher ñã tìm ra cách ñơn giản ñể giải quyết vấn ñề ñó là giảm số lượng doanh nghiệp mà ông sở hữu xuống. Ông luôn nói rằng việc sở hữu một ít doanh nghiệp có triển vọng tốt hơn nhiều so vói việc sở hữu nhiều doanh nghiệp bình thường.
Nhìn chung, ông chỉ sở hữu ít hơn mười doanh nghiệp trong danh mục và thường ba ñến bốn doanh nghiệp chiếm 75% tổng giá trị danh mục.3 Lí thuyết của John Burr William John Burr Williams tốt nghiệp Harvard University năm 1923, sau ñó theo học tại Harvard Business School, tại ñây ông lần ñầu ñược tiếp xúc với việc dự báo kinh tế và phân tích chứng khoán. Sau khi tốt nghiệp Havard ông làm chuyên viên phân tích tại hai doanh nghiệp danh tiếng tại phố Wall. Tại ñây ông ñã chứng kiến sự sụp ñổ kinh hoàng của TTCK năm 1929. Kinh nghiệm này ñã dẫn ông tới nhận thức rằng ñể làm nhà ñầu tư tốt, thì cần phải là một nhà kinh tế giỏi.
Vào năm 1932, lúc ñó ông 30 tuổi và ñã là một nhà ñầu tư giỏi, ông ghi danh vào học tại trường Harvard’s Graduate School of Arts and Sciences. Ông làm việc với niềm tin là những gì xảy ra ñối với nền kinh tế sẽ tác ñộng tới giá trị của cổ phiếu. Khi chuẩn bị làm luận văn tiến sỹ ông ñược tư vấn về ñề tài “giá trị nội tại của cổ phiếu phổ thông” ñây là sự gợi ý ñể Williams hoàn thành luận văn tiến sỹ vào năm 1937 với ñề tài “Lý thuyết về giá trị của khoản ñầu tư” (The Theory of Investment Value) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Lý thuyết này ñã tạo cơ sở lý luận cho các nhà kinh tế nổi tiếng sau này như Harry Markowitz, Eugene Fama, hay Franco Modigliani. Warren Buffett gọi ñó là một trong những quyển sách về ñầu tư quan trọng nhất từng ñược viết.
Lý thuyết của Williams ñược biết ñến ngày nay là mô hình chiết khấu cổ tức hay chiết khấu dòng tiền. Ý nghĩa của phương pháp này là xác ñịnh giá trị của chứng khoán tại thời ñiểm hiện tại bằng cách ước lượng tất cả dòng tiền mà chứng khoán ñó tạo ra trong tương lai, trong suốt thời gian tồn tại của chứng khoán ñó, rồi chiết khấu về giá trị hiện tại. ðây là phương pháp ñịnh giá cơ bản mà WB sử dụng ñể ñịnh giá cổ phiếu và các doanh nghiệp. WB tóm tắt lý thuyết của Williams như sau: “Giá trị của doanh nghiệp ñược quyết ñịnh bởi dòng tiền thuần ñược dự ñoán sẽ xảy ra trong suốt vòng ñời của doanh nghiệp và ñược chiết khấu về hiện tại bằng một lãi suất chiết khấu thích hợp” Williams ñã mô tả như sau: “Một con bò cho sữa; một con gà mái cho trứng; và cổ phiếu cho cổ tức”.4 Quan ñiểm ñầu tư của Charlie Munger Cho dù Charles Munger và WB cùng lớn lên tại Omaha, nhưng cả hai chưa từng gặp nhau cho ñến năm 1959.
Vào thời ñiểm ñó, Munger ñã chuyển ñến nam California, và ông trở về thăm Omaha khi cha ông qua ñời. Một người bạn chung của hai người tin rằng ñã ñến lúc hai người cần gặp nhau và mời họ cùng ñến dự buổi tối tại một nhà hàng ñịa phương. Việc này ñã bắt ñầu một mối quan hệ ñặc biệt sau này. Munger là con một luật sư, ông nội ông từng là thẩm phán liên bang, bản thân ông ñã hành nghề luật khá thành công tại khu vực Los Angeles, tuy nhiên niềm ñam mê ông giành cho TTCK là rất lớn.
Sau buổi tối ñó, hai người thường xuyên trao ñổi với nhau, và WB luôn hối thúc Munger rời nghành luật ñể tập trung vào ñầu tư. Năm 1962 Munger thành lập quỹ ñầu tư giống WB, sau ba năm thành công liên tục, ông ñã rời nghành luật ñể tập trung vào ñầu tư. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Munger bắt ñầu mua cồ phần của Blue Chip Stamps vào năm những năm 1960, và sau này trở thành chủ tịch Hội ñồng quản trị.